
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015
U máu gan gặp nhiều ở nữ giới độ tuổi 30 - 50
U máu gan hầu như không có biến chứng ác tính, thường diễn biến ổn định nếu như không có biến chứng tắc mạch hay phát triển về số lượng hoặc kích thước.
Sự phát triển của một số u máu tùy thuộc vào lượng oestrogen và progesteron trong cơ thể. Điều này giải thích cho tần số xuất hiện cao u máu ở những phụ nữ trẻ và một số u máu tăng kích thước nhanh trong thời kỳ phụ nữ mang thai.
Tuy nhiên, cho đến nay, các nhà khoa học học vẫn chưa tìm thấy mối liên quan giữa u máu gan và việc sử dụng thuốc tránh thai qua đường uống.
Hầu hết các u máu gan không có triệu chứng lâm sàng, được phát hiện tình cờ trên siêu âm, hoặc chụp cắt lớp. Tuy nhiên, những u máu lớn có thể có biểu hiện lâm sàng như đau hạ sườn phải, gan to, hoặc xuất hiện khối u bướu trong ổ bụng.
Để chẩn đoán u máu gan chủ yếu dựa vào hình ảnh trên siêu âm, chụp cắt lớp và đặc biệt là hình ảnh chụp trên xạ hình hạt nhân. Chụp xạ hình SPECT với Tc-99 gắn hồng cầu tự thân là phương pháp chẩn đoán không chảy máu, có thể thực hiện nhiều lần. Vì vậy, phương pháp này được coi như là chỉ định hàng đầu trong chẩn đoán u máu gan ở các nước có nền y học hạt nhân phát triển.
Biến chứng u máu gan có thể gặp là chảy máu trong khối u, hay khối u vỡ chảy máu trong ổ bụng do chấn thương hoặc sau khi chọc sinh thiết. U máu hầu như không có biến chứng ác tính hoá. Biến chứng tắc mạch trong u máu cũng có thể gặp với các biểu hiện lâm sàng như đau hạ sườn phải và sốt.
Không có thuốc nào có thể làm cho u máu nhỏ lại hay tiêu đi. Nếu u không gây triệu chứng gì thì chỉ cần theo dõi bằng siêu âm, khoảng 3-6 tháng siêu âm 1 lần, tùy theo việc u thay đổi kích thước nhanh hay chậm.
Chỉ cần điều trị khi u máu gây biến chứng. Điều trị tốt nhất là phẫu thuật, nhưng cũng có thể làm tắc động mạch máu nuôi u, thắt động mạch đến u, hoặc đốt hay chiếu điện… tuỳ vào kích thước, vị trí u và thể trạng sức khoẻ của mỗi người. Bạn có thể đến các bệnh viện đa khoa để xét nghiệm và có hướng điều trị thích hợp.
U máu gan thường đơn độc, kích thước dưới 3cm, hay gặp ở thuỳ gan phải. Khoảng 10% bệnh nhân có nhiều u và khoảng 10%-20% các khối u có đường kính trên 4cm, được coi là u máu có kích thước lớn. Các u máu lớn thường kèm theo cấu trúc xơ, huyết khối và đôi khi có vôi hóa.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015
Điều kiện ghép tủy của bệnh rối loạn sinh tủy
Điều kiện ghép tủy của bệnh rối loạn sinh tủy là vấn đề được nhiều người quan tâm. Hội chứng rối loạn sinh tủy là căn bệnh về máu khá phổ biến tại Việt Nam.
Để được ghép tủy, người bệnh cần đảm bảo đủ những điều kiện cần thiết.
Điều kiện ghép tủy của bệnh rối loạn sinh tủy
Điều kiện ghép tủy của bệnh rối loạn sinh tủy
Hội chứng rối loạn sinh tủy (HCRLST) là một nhóm bệnh lý của tế bào gốc sinh máu. Đặc trưng của bệnh là tình trạng sinh máu không hiệu lực, biểu hiện bằng sự giảm ít nhất một dòng tế bào ở máu ngoại vi, hậu quả của rối loạn quá trình biệt hoá và trường thành của 1, 2 hoặc cả 3 dòng hồng cầu, bạch cầu hoặc tiểu cầu trong tuỷ xương. Bệnh có xu hướng chuyển thành Leukemia cấp.
Điều kiện ghép tủy của bệnh rối loạn sinh tủy là vấn đề được nhiều người quan tâm.
Bệnh thường gặp ở người trên 50 tuổi, bệnh nhân nam nhiều hơn nữ. Thiếu máu là triệu chứng sớm nhất và thường gặp nhất. Thiếu máu thường từ từ, dai dẳng không rõ nguyên nhân.
Đây là nhóm bệnh trong đó có nhiều biểu hiện, nhiều thể và giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên, tất cả nhóm bệnh đều có chỉ định ghép tủy. Đây cũng là biện pháp điều trị cuối cùng dành cho bệnh nhân.
Bệnh nhân đảm bảo đủ sức khỏe mới tiến hành ghép tủy
Trước khi ghép tủy, các bác sĩ sẽ điều trị bằng hóa chất, kết hợp truyền máu, tiểu cầu và sử dụng kháng sinh đối với bệnh nhân bị nhiễm trùng. Sau giai đoạn này, nếu bệnh nhân trở lại trạng thái gần bình thường và thể lực khỏe mạnh sẽ được tiến hành ghép tủy.
Bệnh nhân cần đủ độ tuổi và tìm được tủy ghép tương thích
Để được ghép tủy, bệnh nhân phải đảm bảo điều kiện nam dưới 60 tuổi, nữ dưới 55 tuổi. Người lớn tuổi hơn, tủy xơ không thể ghép.
Người bệnh cần tìm người cho tủy phù hợp. Đó không thể là bố mẹ vì chỉ có nửa gen mà bắt buộc phải là anh em ruột. Tuy nhiên, nếu gia đình có từ 4 - 5 người con cũng chỉ có 1 người phù hợp.
Thông thường, thời gian điều trị sau ghép tủy có thể kéo dài trên 5 năm, tùy từng người. Thậm chí có người còn có thể sống lâu hơn. Tuy nhiên, nếu ghép tủy thất bại thì cũng ảnh hưởng đến tính mạng của bệnh nhân. Theo thống kê trên thế giới có khoảng 60% ca ghép tủy thành công.
Đến nay, việc điều trị nhóm bệnh lý này vẫn còn hết sức nan giải, chưa có thuốc đặc trị và biện pháp nào đem lại hiệu quả chắc chắn.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Rối loạn sinh tuỷ là bệnh gì?
Hội chứng rối loạn sinh tuỷ mà ông Nguyễn Bá Thanh mắc phải thuộc nhóm bệnh lý ác tính của các dòng tế bào tạo máu trong tuỷ xương.
GS Bạch Quốc Khánh (Viện Huyết học truyền máu Trung ương) cho biết: Vào cuối tháng 5/2014, ông Nguyễn Bá Thanh giảm hồng cầu, tiểu cầu, thiếu máu nên đã nhập viện. Được các giáo sư của ban xác định hội chứng rối loạn sinh tủy.
Theo tài liệu của ThS.BS Trương Thị Như Ý (Viện huyết học Truyền máu Trung ương): Hội chứng rối loạn sinh tuỷ là một nhóm bệnh lý ác tính của các dòng tế bào tạo máu trong tuỷ xương, đặc trưng bởi tình trạng sinh máu không hiệu lực, gây ra giảm sản hoặc loạn sản các dòng tế bào máu và có nguy cơ cao tiến triển thành lekeumia cấp dòng tuỷ (AML).
Một bệnh nhân rối loạn sinh tuỷ với nhiều bất thường
Mặc dù được coi là một tình trạng bệnh lý tiền lekeumia với sự hình thành của các dòng tế bào gốc ác tính trong tuỷ xương, nhưng không phải tất cả các trường hợp rối loạn sinh tuỷ đều tiến triển thành lekeumia cấp.
Mặc dù hội chứng rối loạn sinh tuỷ được chẩn đoán chủ yếu dựa vào các đặc điểm hình thái học, nhưng những phân tích về gen tế bào học tuỷ xương cũng có vai trò hết sức quan trọng, giúp cho việc tiên lượng bệnh, khẳng định chẩn đoán trong những trường hợp các rối loạn về hình thái không rõ rệt, đồng thời mở rộng những hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của bệnh.
Phân tích những đặc điểm về di truyền học cho thấy, hội chứng rối loạn sinh tuỷ là một dạng bất thường đơn dòng của các tế bào sinh máu, đặc trưng bởi sự khiếm khuyết của quá trình trưởng thành tế bào và sự tăng sinh không có khả năng kiểm soát trong giai đoạn bệnh tiến triển.
Hội chứng rối loạn sinh tuỷ có liên quan với rất nhiều các bất thường về nhiễm sắc thể, gợi ý cơ chế mang tính phân tử của bệnh. Theo một số tác giả,với kỹ thuật phân tích nhiễm sắc thể thông thường có thể phát hiện những bất thường về nhiễm sắc thể trong khoảng 40-70% các trường hợp rối loạn sinh tuỷ tiên phát và khoảng 95% các trường hợp rối loạn sinh tuỷ thứ phát sau điều trị.
Những bất thường nhiễm sắc thể dạng mất cân đối là điểm đặc trưng của hội chứng rối loạn sinh tuỷ, trong đó hay gặp nhất là mất đoạn hoặc toàn bộ nhiễm sắc thể số 5 hoặc 7, ít gặp hơn là mất đoạn các nhiễmsắc thể số 9, 11, 12, 13, 17 hoặc 20.
Những bất thường này gặp trong hơn 90% trường hợp rối loạn sinh tuỷ thứ phát. Ngoài ra,người ta cũng đã tìm thấy các bất thường thừa nhiễm sắc thể như trisomy 8 hoặc 13 trong một số trường hợp. Nói chung, những bất thường nhiễm sắc thể kiểu mất đoạn gặp trong nhiều trường hợp rối loạn sinh tuỷ cho thấy, các gen ức chế u hoặc gen sửa chữa DNA có thể liên quan đến tình trạng bệnh lý này.
Tài liệu của Viện huyết học Truyền máu Trung ương khẳng định: Ghép Tế bào gốc tạo máu (= Ghép tủy) hiện nay được coi là phương pháp điều trị tốt nhất, có thể đưa lại cơ hội sống cho những bệnh nhân bị mắc các bệnh lý huyết học và một số bệnh lý khác ngoài chuyên khoa Huyết học.
Ghép Tế bào gốc đồng loại được đánh giá là phương pháp điều trị Hội chứng Rối loạn sinh tuỷ, Ghép tế bào gốc đồng loại là phương pháp ghép Tế bào gốc bằng cách lấy Tế bào gốc từ người anh em ruột thịt để ghép cho bệnh nhân.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Hồng cầu thiếu, hồng cầu thừa
Ai cũng biết tầm quan trọng của hồng cầu trong máu. Và hẳn nhiên, ai cũng biết việc thiếu thừa hồng cầu là… bất bình thường.
Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm của bệnh lý này ra sao thì không phải ai cũng rõ.
Phóng viên Báo Phụ Nữ đã trao đổi với BS Phù Chí Dũng - Giám đốc BV Truyền Máu và huyết học xung quanh vấn đề này.
Thưa BS, ở người bình thường, chỉ số hồng cầu cơ bản là bao nhiêu?
- Số lượng hồng cầu trung bình của người Việt Nam là: nam giới khoảng 4,2 triệu/mm3 và nữ giới khoảng 3,8 triệu/mm3 máu. Lượng hồng cầu có thay đổi chút ít trong ngày, thấp lúc ngủ và cao khi vận động.
Hồng cầu ở trẻ sơ sinh cao hơn người lớn, khoảng 5 triệu/mm3, nhưng trong 10 ngày đầu sau khi trẻ được sinh ra, một số hồng cầu bị tiêu đi, gây ra tình trạng vàng da sinh lý trẻ sơ sinh. Một vài tháng sau, hồng cầu của trẻ sẽ xấp xỉ của người trưởng thành.
Đời sống trung bình của hồng cầu trong máu ngoại vi khoảng 100-120 ngày. Hồng cầu già sẽ tiêu hủy bởi các đại thực bào trong tủy xương, gan, lách.
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì thiếu máu là tình trạng giảm lượng huyết sắc tố lưu hành trong máu ngoại vi so với người bình thường cùng giới, cùng lứa tuổi, cùng một môitrường sống.
Chức năng, nhiệm vụ của hồng cầu trong "hệ máu" ra sao?
- Hồng cầu hay huyết cầu tố là loại tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa oxy từ phổi đến các mô do phân tử huyết cầu tố có thể dễ dàng thích hợp với oxy. Bên cạnh đó, hồng cầu có chức năng điều hòa cân bằng kiềm toan trong cơ thể. Hemoglobin trong hồng cầu thực hiện vai trò như một hệ thống đệm quan trọng trong cơ thể.
Bệnh thiếu máu (hồng cầu) có di truyền không? Có ngăn ngừa được không?
- Có nhiều nguyên nhân gây bệnh thiếu máu (hồng cầu), trong đó có thiếu máu do di truyền do bất thường màng hồng cầu, bất thường huyết sắc tố hoặc do thiếu men. Bệnh thiếu máu do di truyền chưa thể phòng ngừa, ngoài việc kiểm tra chồng, vợ hay bào thai giúp chỉ dẫn họ về xác suất con cái họ có mang mầm bệnh hay bị bệnh nặng không.
Việc điều trị tùy theo từng loại bệnh thiếu máu di truyền. Đối với bệnh thiếu máu do bất thường huyết sắc tố, cần truyền máu thường xuyên và theo dõi vấn đề ứ sắt để giảm bớt những biến chứng của bệnh. Trong trường hợp thiếu máu di truyền do thiếu men G6PD, bệnh nhân sẽ được hướng dẫn danh sách các thuốc nguy hiểm không nên dùng và cần tránh một số thức ăn...
Có phương pháp nào để giúp "sản sinh" ra hồng cầu? Dinh dưỡng có ảnh hưởng gì tới việc này hay không?
Cơ thể cần một số vitamin, khoáng chất và chất dinh dưỡng để tạo ra đủ hồng cầu. Sắt, vitamin B12 và axít folic là ba yếu tố quan trọng nhất. Cơ thể có thể không có đủ các chất dinh dưỡng do:
Những thay đổi trong niêm mạc dạ dày hoặc ruột ảnh hưởng đến hấp thu các chất dinh dưỡng (ví dụ, bệnh celiac).
- Ăn uống không đầy đủ.
- Mất máu từ từ (ví dụ, kinh nguyệt nhiều hoặc loét dạ dày).
- Phẫu thuật loại bỏ một phần của dạ dày hoặc ruột.
Vì vậy, điều trị thiếu máu ngoài việc truyền máu để đảm bảo vận chuyển oxy, một số trường hợp thiếu máu do thiếu chất như thiếu máu do thiếu sắt hoặc do thiếu axít folic và/hoặc vitamin B12 thì ngoài việc uống bổ sung viên sắt, axít folic, vitamin B12, cần phải chú trọng thêm về vấn đề dinh dưỡng bằng cách cải thiện bữa ăn: lựa chọn thực phẩm giàu sắt cho bữa ăn gia đình.
Đó gồm: các loại ốc; các loại thịt như thịt bò, lợn, gan lợn, tiết lợn; cá ngừ; lòng đỏ trứng; các loại rau như dền, ngót, muống... và các loại đậu. Dùng thêm nước mắm, bánh... có bổ sung chất sắt.
Đa hồng cầu (ĐHC) là bệnh gì?
Bệnh ĐHC là trường hợp số lượng hồng cầu trong máu vượt quá mức bình thường. Nguyên nhân: chia làm hai loại:
- ĐHC nguyên phát: do bệnh lý tại cơ quan tạo máu, đây là một dạng bệnh lý ác tính.
- ĐHC thứ phát, ví dụ: sự sụt giảm oxy trong bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, người sống ở vùng đồi núi cao, bệnh lý tim mạch như suy tim, tim bẩm sinh...
Trong đó, ĐHC nguyên phát thuộc nhóm các bệnh tăng sinh tủy mạn ác tính, là một nhóm bệnh ác tính hệ tạo máu thường gặp. Đặc điểm chung của nhóm bệnh lý này là diễn biến mạn tính, lách to kèm theo tăng một hoặc nhiều dòng tế bào tủy.
ĐHC tiến triển bệnh rất chậm, người bệnh có thể sống "bình yên" bao lâu cho đến khi bệnh bộc phát?
- ĐHC nguyên phát có tiên lượng tương đối tốt. Nhưng nếu không điều trị, thời gian sống trung bình chỉ từ 6 đến 18 tháng. Nếu có điều trị, thời gian sống trung bình 10 - 20 năm. Nguyên nhân tử vong chủ yếu là do tắc mạch, tai biến mạch máu não do tăng huyết áp. Những nguyên nhân gây tử vong khác là chuyển dạng bệnh bạch cầu cấp hoặc đến giai đoạn kiệt tủy.
Bệnh ĐHC có thể điều trị dứt điểm được không? Có phòng ngừa được không?
Bệnh ĐHC không thể điều trị dứt điểm được. Ngày nay, trích máu và dùng thuốc nhằm làm giảm số lượng hồng cầu trong máu vẫn là hai phương pháp chính để điềutrị bệnh:
- Rút máu: áp dụng với các bệnh nhân trẻ tuổi hoặc ở thể nhẹ. Tuy nhiên, việc rút máu sẽ làm tăng nguy cơ thiếu sắt, không kiểm soát được số lượng tiểu cầu và có thể gây ra một vài rối loạn huyết động ở một vài người.
- Dùng thuốc: khi liệu pháp rút máu không thể áp dụng, người ta sẽ sử dụng đến thuốc. Hiện nay, có ba loại thuốc chính: Hydroxyurea, Interferon và Anagrelide. Các loại thuốc trên đều có những quy tắc sử dụng nhất định, có loại còn có tác dụng phụ trong quá trình sử dụng, do đó, người bệnh cần tuân theo sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.
Hiện nay, chưa có phương pháp nào phòng bệnh hiệu quả, có chăng chỉ là việc duy trì lối sống khỏe mạnh để máu không bị nghẽn mạch mà thôi.
Như vậy, thiếu hồng cầu và đa hồng cầu, bệnh nào nguy hiểm hơn?
- Bệnh nào cũng có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng hoặc ảnh hưởng chất lượng sống nên không thể nói được bệnh nào nguy hiểm hay dễ phòng ngừa và điều trị hơn. Nếu mắc phải một trong những chứng bệnh trên, cần phải đi khám ngay để được xác định, chẩn đoán và có hướng điều trị tiếp theo.
Xin cám ơn BS.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Những nguy hại bạn có thể gặp nếu thiếu vitamin nhóm B
Có bao giờ bạn tự hỏi tại sao các bác sĩ luôn luôn khuyên bạn ăn một chế độ ăn uống cân bằng? Đó là để cơ thể bạn không bị thiếu vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B.
Vitamin nhóm B là các loại vitamin quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tế bào và giữ cho bạn tràn đầy sinh lực.
Không phải tất cả các loại vitamin nhóm B đều có chức năng như nhau. Ngoài ra, các loại vitamin nhóm B đều đến từ các loại thức ăn khác nhau. Ví dụ, vitamin B12 được tìm thấy chủ yếu trong thịt và các sản phẩm sữa; vitamin B7 và B9 (và, một lượng vitamin B1 và B2 nhất định) được tìm thấy trong trái cây và rau quả...
Sự thiếu hụt bất cứ vitamin nhóm B nào cũng có thể dẫn đến vấn đề sức khỏe. Một số bệnh chẳng hạn như bệnh Crohn, bệnh Celiac, HIV và nghiện rượu có thể dẫn đến kém hấp thu vitamin B.
Các triệu chứng của sự thiếu hụt phụ thuộc vào loại vitamin B bạn còn thiếu. Triệu chúng có thể từ mệt mỏi và bối rối đến thiếu máu hoặc một hệ thống miễn dịch bị tổn thương. Phát ban ngoài da cũng có thể xảy ra nếu bạn bị thiếu vitamin nhóm B.
Dưới đây là tất cả những điều bạn cần biết các loại vitamin nhóm B phổ biến nhất: chức năng của nó, những loại thực phẩm chứa nó, và lý do tại sao bạn cần nó.
Vitamin B12
Chức năng: Vitamin B12 giúp điều hòa hệ thần kinh. Nó cũng đóng một vai trò trong sự phát triển và hình thành tế bào hồng cầu.
Các bác sĩ ở Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Bệnh Tật Mỹ (CDC) khuyên bệnh nhân 50 tuổi trở lên càng phải bổ sung B12. Bổ sung vitamin chỉ nên được thực hiện theo lời khuyên của bác sĩ.
Những thực phẩm giàu vitamin B12: Vitamin B12 được tìm thấy chủ yếu trong thịt và sản phẩm từ sữa. Người ăn chay rất nghiêm ngặt càng có nguy cơ bị thiếu hụt vitamin B12.
Điều gì xảy ra nếu bạn thiếu vitamin B12: Thiếu hụt vitamin B12 có thể dẫn đến thiếu máu và sự suy giảm trí nhớ ở người cao tuổi. CDC công bố rằng trong các nghiên cứu về những người thiếu hụt B12, 56-77% bị thiếu máu nghiêm trọng.
Vấn đề tâm lý như mất trí nhớ, hoang tưởng, trầm cảm và các vấn đề hành vi có thể là hậu quả của sự thiếu hụt vitamin B12. Tổn thương thần kinh do thiếu hụt vitamin B12 trong nhiều trường hợp cũng không thể chữa lành.
Những người thiếu vitamin B12 thường bị ngứa ran ở bàn chân và bàn tay của họ.
Vitamin B6
Chức năng: Vitamin B6 (pyridoxine) giúp cơ thể chuyển hóa thực phẩm thành năng lượng. Nó cũng có thể giúp cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng. Phụ nữ mang thai và cho con bú cần vitamin B6 để giúp não trẻ sơ sinh phát triển bình thường.
Những thực phẩm chứa vitamin B6: B6 có thể được tìm thấy trong cá, thịt gia cầm, gan, khoai tây và trái cây không có múi.
Điều gì xảy ra nếu bạn thiếu vitamin B6: Thiếu vitamin B6 có thể dẫn đến thiếu máu cũng như rối loạn về da như phát ban hoặc vết nứt xung quanh miệng. Thiếu B6 cũng có thể gây ra trầm cảm, lú lẫn, hoặc dễ nhiễm trùng.
Vitamin B1 và B2
Chức năng: Vitamin B1 cũng được gọi là thiamin. Vitamin B2 còn được gọi là riboflavin. Những vitamin này giúp chuyển hóa thức ăn thành năng lượng. Vitamin B1 có tốt cho thần kinh và vitamin B2 giúp duy trì thị lực phù hợp.
Những thực phẩm giàu vitamin B1 và vitamin B2: Hầu hết mọi người nhận được vitamin B1 từ ngũ cốc. Vitamin B2 cũng có thể được tìm thấy trong ngũ cốc nguyên hạt, cũng như trong sữa, trứng và các loại rau màu xanh đậm.
Điều gì xảy ra nếu bạn thiếu vitamin B1, vitamin B2: Sự thiếu hụt vitamin B1 và B2 thường không gây ra vấn đề gì quá nghiêm trọng nhưng nó với người nghiện rượu, nó sẽ dẫn đến các triệu chứng như lú lẫn và có vết nứt dọc theo các cạnh của miệng.
Vitamin B9
Chức năng: Vitamin B9 cũng được gọi là axit folic. Giống như hầu hết các loại vitamin B, vitamin B9 thúc đẩy sự tăng trưởng của các tế bào hồng cầu. Vitamin B9 cũng làm giảm nguy cơ dị tật bẩm sinh.
Những thực phẩm giàu vitamin B9: Vitamin B9 có thể được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm, từ thịt ngũ cốc các loại trái cây họ cam quýt.
Điều gì xảy ra nếu bạn thiếu vitamin B9: Nếu không có đủ vitamin B9, một người có thể bị tiêu chảy hoặc thiếu máu. Phụ nữ mang thai thiếu hụt vitamin B9 có thể sinh con bị dị tật.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015
Những dấu hiệu cảnh báo bạn đang bị thiếu máu
Thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng cầu hoặc giảm nồng độ huyết sắc tố ở máu ngoại vi dẫn đến máu thiếu oxy để cung cấp cho các mô tế bào trong cơ thể.
Nhận biết được các dấu hiệu thiếu máu có thể giúp bạn kịp thời khắc phục hiện tượng này.
Màu mắt
Màu mắt
Rất dễ dàng để phát hiện tình trạng thiếu máu từ mắt, khi bạn kéo căng mí mắt và nhìn xuống bên dưới của mắt, nếu thấy màu nhợt nhạt, điều đó chứng tỏ bạn đang thiếu máu.
Những dấu hiệu cảnh báo bạn đang bị thiếu máu.
Mệt mỏi
Nếu bạn luôn cảm thấy mệt mỏi trong vòng 1 tháng hoặc hơn, điều này có nghĩa là bạn có số lượng tế bào hồng cầu thấp. Nguồn năng lượng cơ thể phụ thuộc vào quá trình oxy hóa các tế bào hồng cầu, lượng hồng cầu càng thấp thì tốc độ oxy hóa trong cơ thể càng thấp.
Buồn nôn
Thiếu máu mang đến cho bạn các triệu chứng giống như ốm nghén vậy, hoặc bạn sẽ cảm thấy buồn nôn khi tỉnh dậy vào mỗi buổi sáng.
Nhức đầu
Những người bị thiếu máu thường phàn nàn về chứng đau đầu dai dẳng. Lượng máu trong cơ thể thấp khiến não bị thiếu ôxy. Điều này là nguyên nhân dẫn đến chứng đau đầu dai dẳng.
Tay nhợt nhạt
Khi bạn nhấn ngón tay của một người khỏe mạnh, nó sẽ chuyển sang màu đỏ bởi tất cả máu đều được ép vào đầu ngón tay. Nhưng nếu bạn bị thiếu máu, ngón tay của bạn sẽ có màu trắng nhợt nhạt.
Khó thở
Lượng máu thấp có nghĩa là khả năng vận chuyển oxy của máu giảm. Điều này làm cho bạn khó thở, hay thở dốc ngay cả khi làm các hoạt động nhẹ nhàng hàng ngày như đi bộ.
Tim đập nhanh
Khi bạn thiếu máu, thở gấp hay lượng oxy cung cấp không đủ, tim sẽ tăng nhịp đập để bù đắp cho thâm hụt năng lượng. Điều này làm cho tim đập nhanh hơn bình thường.
Cách điều trị và phòng tránh thiếu máu
Khi thiếu máu ở dạng nhẹ, bạn hãy bổ sung bằng cách dùng thuốc (theo chỉ dẫn của bác sĩ) hoặc thông qua các thực phẩm chứa nhiều sắt và tốt cho máu như thịt bò, các loại rau lá xanh đậm, ngũ cốc, các loại trái cây giàu vitamin C như cam, chanh…
Ngoài ra, bạn cũng nên cung cấp đầy đủ các dưỡng chất thiết yếu cho cơ thể, uống nhiều nước, tránh sử dụng rượu, bia, thuốc lá. Việc duy trì giấc ngủ đủ 7 - 8 tiếng mỗi ngày cũng rất tốt cho người thiếu máu.
Nếu các biện pháp trên không làm bệnh thuyên giảm thì bạn nên đến bệnh viện để kiểm tra và điều trị bằng các biện pháp hiệu quả hơn như truyền máu, dùng phương pháp phục hồi chức năng tủy xương…
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317


Thứ Năm, tháng 9 10, 2015
doanh nhan