This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016
11 bệnh thường gặp do thiếu vitamin D
Mỗi vitamin đều đóng góp phần quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể con người và vitamin D là cũng là loại vitamin quan trọng đối với cơ thể. Thiếu vitamin D có thể gây ra những căn bệnh sau:
Hen suyễn
Vitamin D cần thiết cho quá trình hoạt động của phổi. Vậy nên chức năng phổi sẽ giảm đi nếu như thiếu vitamin D. Thiếu vitamin D trầm trọng sẽ tăng nguy cơ hen suyễn, viêm phổi, đặc biệt với trẻ nhỏ.
Tim mạch
Cơ thể thiếu vitamin D làm tăng nguy cơ viêm phổi, đồng thời làm tăng nguy cơ của bệnh cao huyết áp, nguy cơ tử vong do vấn đề tim mạch.
Gây viêm
Khi cơ thể không được cung cấp vitamin D trong thời gian dài sẽ khiến cho hệ miễn dịch kém dần, khả năng phản ứng của hệ miễn dịch kém dần. Trong trường hợp này, bạn rất dễ mắc các chứng bệnh viêm khớp dạng thấp, lupus, viêm ruột, tiểu đường loại một.
Tăng cholesterol
Vitamin D có những tác dụng như điều chỉnh nồng đô cholesterol trong máu. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng khi thiếu ánh sáng mặt trời trong thời gian dài hàm lượng tiền chất của vitamin D sẽ nhanh chóng chuyển thành cholesterol thay vì vitamin D.
Loãng xương
Vitamin D giúp xương chắc khỏe. Khi lượng vitamin này trong cơ thể bị cạn kiệt sẽ tăng nguy cơ gãy xương, giảm chất lượng các xương sụn khớp.
Dị ứng
Đây là điều dễ bắt gặp, đặc biệt với trẻ em. Khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ vitamin D nó sẽ không chỉ gây nên viêm mà còn là nguyên nhân của các chứng dị ứng thực phẩm, mẩn ngứa.
Cúm
Bạn có tin được là cơ thể sẽ bị yếu đi, hệ hô hấp sẽ bị nhiễm trùng và sức đề kháng của cơ thể sẽ giảm nếu như hàm lượng vitamin D trong cơ thể kém? Đó là sự thật, với những người có nồng độ vitamin D cao sẽ ít nguy cơ bị cảm lạnh, cúm hơn những người hấp thụ lượng vitamin này thấp.
Trầm cảm
Thực tế cũng như khoa học đã chứng minh thụ thể vitamin D xuất hiện không chỉ để hỗ trợ xương khớp chắc khỏe mà còn hỗ trợ da khỏe mạnh, nâng cao đề kháng và đặc biệt là tham gia vào cả khu vực hoạt động của não bộ.
Vitamin D cần thiết cho sự sảng khoái, đầu óc minh mẫn, cơ thể khỏe mạnh mỗi ngày. Thiếu vitamin khiến bạn mệt mỏi, ủ rũ và là một trong những yếu tố gây nên bệnh trầm cảm.
Sức khỏe răng miệng
Một số báo cáo mới đây đưa ra minh chứng cụ thể có liên hệ giữa vitamin D và răng miệng. Người có hàm lượng vitamin D thấp có nguy cơ mất răng và sâu răng nhiều hơn những người có hàm lượng vitamin D cao.
Viêm khớp dạng thấp
Thiếu vitamin D khiến thúc đẩy nhanh quá trình hình thành bệnh viêm khớp.
Ung thư
Vitamin D thấp khiến cho các tế bào ung thư phát triển mạnh hơn. Một nghiên cứu mới đây cho thấy 75% người có hàm lượng vitamin D thấp bị các loại bệnh ung thư khác nhau.
Vậy nên, nếu bạn là người thiếu vintamin D thì bạn nên ăn uống đầy đủ, thường xuyên luyện tập và hít thở sâu và tắm nắng vào mỗi sáng sớm. Bạn cũng nên ăn các thực phẩm giúp bổ sung thêm hàm lượng vitamin này.
9 dấu hiệu phát hiện sớm bệnh ung thư máu
Đau bụng. Bệnh nhân mắc bệnh ung thư máu thường có biểu hiện đau bụng. Lý do là các tế bào
ung thư máu tích tụ trong thận, gan và lá lách, khiến cho bụng to ra. Ảnh: marrybaby
ung thư máu tích tụ trong thận, gan và lá lách, khiến cho bụng to ra. Ảnh: marrybaby
Chán ăn. Dạ dày đau thường kèm theo mất cảm giác ngon miệng, gây chán ăn (chủ yếu là sợ thịt).
Nếu người bệnh sụt cân nhiều, sốt dai dẳng không do nguyên nhân nhiễm khuẩn, điều trị
bằng mọi cách cũng không khỏi, mệt mỏi kéo dài… thì cần nhanh chóng
đi làm xét nghiệm để phát hiện bệnh sớm. Ảnh: alobacsi
Nếu người bệnh sụt cân nhiều, sốt dai dẳng không do nguyên nhân nhiễm khuẩn, điều trị
bằng mọi cách cũng không khỏi, mệt mỏi kéo dài… thì cần nhanh chóng
đi làm xét nghiệm để phát hiện bệnh sớm. Ảnh: alobacsi
Sốt, đau đầu. Sự chèn ép của các tế bào trong tủy gây ra những cơn đau đầu, sốt.
Nếu bạn gặp phải những dấu hiệu này mà đã chữa trị nhưng không dứt, hãy nghĩ tới
có thể nó chính là dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư máu. Ảnh: giadinh
Nếu bạn gặp phải những dấu hiệu này mà đã chữa trị nhưng không dứt, hãy nghĩ tới
có thể nó chính là dấu hiệu ban đầu của bệnh ung thư máu. Ảnh: giadinh
Sưng hạch bạch huyết. Hạch bạch huyết là những cấu trúc hình hạt đậu nhỏ giúp lọc máu.
Khi mắc bệnh, tế bào ung thư có thể tích tụ trong các hạch bạch huyết.
Từ đó dẫn tới các hạch bạch huyết dưới cánh tay, ở bẹn,
ngực và cổ có thể sưng lên. Ảnh: meocon
Khi mắc bệnh, tế bào ung thư có thể tích tụ trong các hạch bạch huyết.
Từ đó dẫn tới các hạch bạch huyết dưới cánh tay, ở bẹn,
ngực và cổ có thể sưng lên. Ảnh: meocon
Khó thở. Đối với bệnh bạch cầu cấp tính tế bào T, nhóm tế bào ung thư có xu hướng bao quanh tuyến ức,
gây đau đớn và khó thở. Các triệu trứng khác kèm theo là thở khò khè và ho. Ảnh: trithuctre
gây đau đớn và khó thở. Các triệu trứng khác kèm theo là thở khò khè và ho. Ảnh: trithuctre
Đau xương khớp. Đau ở xương và khớp là biến chứng thường gặp của ung thư máu.
Nguyên nhân là do tủy xương bị lấp đầy bởi các tế bào bất thường. Ảnh: artrex
Nguyên nhân là do tủy xương bị lấp đầy bởi các tế bào bất thường. Ảnh: artrex
Thường xuyên bị nhiễm trùng. Khi mắc bệnh, các tế bào bạch cầu mất dần khả năng tiêu diệt
và kháng cự vi khuẩn từ bên ngoài thâm nhập vào cơ thể, dẫn đến khả năng miễn dịch suy giảm.
Chính vì vậy, bệnh nhân thường xuyên bị vi khuẩn, virus từ bên ngoài xâm nhập. Ảnh: khoahoc
và kháng cự vi khuẩn từ bên ngoài thâm nhập vào cơ thể, dẫn đến khả năng miễn dịch suy giảm.
Chính vì vậy, bệnh nhân thường xuyên bị vi khuẩn, virus từ bên ngoài xâm nhập. Ảnh: khoahoc
Da nhợt nhạt, mệt mỏi. Do tế bào bạch cầu tăng, tế bào hồng cầu suy giảm nên da người bệnh
thường nhợt nhạt. Các tế bào ung thư phát triển mạnh khiến bệnh nhân
thường thấy mệt mỏi và yếu ớt ngay cả khi ngồi nghỉ. Ảnh: new
thường nhợt nhạt. Các tế bào ung thư phát triển mạnh khiến bệnh nhân
thường thấy mệt mỏi và yếu ớt ngay cả khi ngồi nghỉ. Ảnh: new
Chảy máu cam. Đây là hiện tượng khá phổ biến. Tuy nhiên, nếu lượng máu chảy nhiều,
xảy ra liên tục trong nhiều ngày thì nên đi khám sớm. Bởi đây có thể là hệ quả
của việc giảm số lượng tiểu cầu - tế bào có tác dụng cầm máu. Ảnh: zing
xảy ra liên tục trong nhiều ngày thì nên đi khám sớm. Bởi đây có thể là hệ quả
của việc giảm số lượng tiểu cầu - tế bào có tác dụng cầm máu. Ảnh: zing
Có 7 dấu hiệu sau có thể bạn đã bị ung thư máu
Ung thư máu có thể xảy ra với bất cứ người nào. Do đó, việc quan tâm đến sức khỏe của bản thân, thông qua những biểu hiện, thay đổi trên cơ thể là cách tốt nhất để phát hiện sớm và phòng tránh bệnh.
Khi có 7 dấu hiệu dưới đây bạn cần cẩn trọng với căn bệnh ung thư máu.
Khó thở
Khò khè, ho kéo dài là hiện tượng rất thường gặp ở nhiều triệu chứng bệnh như cảm cúm kéo dài, ho hen, các chứng bệnh về phổi,…
Tuy nhiên, nó cũng là một trong những dấu hiệu cảnh báo ung thư máu mà hầu hết chúng ta đều nhầm lẫn và bỏ qua.
Sở dĩ đây là một dấu hiệu của ung thư máu vì khi các tế bào ung thư phát triển quanh tuyến ức nó có thể khiến bạn khó thở và ho.
Do đó, khi có hiện tượng này kéo dài mà không có sự liên quan đến các bệnh đường hô hấp bạn cần gặp bác sĩ sớm để kiểm tra, xét nghiệm làm rõ nguyên nhân.
Dễ bị bầm tím
Đây là một dấu hiệu khá rõ ràng và thường gặp nhất về ung thư máu. Nếu thấy cơ thể thường xuyên bị bầm tím khi bạn không có bất cứ những va chạm nào thì hãy coi chừng bệnh ung thư máu.
Khi các tế bào bạch cầu có sự thay đổi bất thường chúng sẽ khiến tiểu cầu bị ứ đọng dễ xảy ra bầm tím hoặc có thể ngược lại.
Mệt mỏi
Ngay cả khi bạn nghỉ ngơi, không phải lao động nặng nhọc gì cũng luôn cảm thấy mệt mỏi bởi các tế bào ung thư phát triển bao trùm làm giảm hệ miễn dịch và khiến cơ thể mệt mỏi, uể oải.
Chảy máu cam
Cũng như hiện tượng bầm tím, chảy máu cam là dấu hiệu khá thường gặp ở người ung thư máu. Khi bệnh phát triển đến mức độ nào đó sẽ khiến bạn bị chảy máu cam do lượng tiểu cầu mất đi.
Không thể chủ quan với tình trạng này, khi có hiện tượng chảy máu cam thường xuyên, kéo dài bạn cần đến gặp bác sĩ để sớm phát hiện bệnh.
Đau bụng, sụt cân
Đau bụng thường xuyên là hậu quả của việc các tế bào ung thư tích tụ trong các bộ phận nội tạng. Kèm theo đó là hiện tượng sụt cân nhanh chóng không rõ nguyên nhân. Cần tới bác sĩ ngay khi có triệu chứng này.
Sốt cao thường xuyên
Khả năng miễn dịch của người mức ung thư máu bị giảm sút trầm trọng và do đó nó sẽ khiến bạn dễ bị các virus tấn công, rất dễ bị sốt cao. Đồng thời các vết thương trên cơ thể cũng rất khó lành, thời gian lành vết thương kéo dài.
Đau nhức xương
Các cơn đâu có thể kéo dài hay âm ỉ, tùy theo mức độ của bệnh, các vị trí có thể là đầu gối, lưng, cánh tay, chân,..xuất phát từ trong tủy do các tế bào hồng cầu bị phá hủy nghiêm trọng.
Tình trạng đau nhức xương thường bị hiểu nhầm là đo tay đổi thời tiết, vận động nhiều hay bị viêm khớp gây ra và thường được điều trị một cách mò mẫm.
Điều này vô cùng tai hại, vì nó có thể là dấu hiệu sớm của ung thư máu.
Do đó khi có dấu hiệu đau nhức xương bạn cần đến gặp bác sĩ để xác định nguyên nhân bệnh tình, tránh trường hợp bị ung thư máu giai đoạn cuối mới phát hiện bệnh sẽ hạn chế về công tác điều trị bệnh.
Phòng ngừa ung thư máu như thế nào?
- Lối sống lành mạnh, ăn uống, sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý để tránh tình trạng phát sinh, tạo điều kiện cho các tế bào ung thư phát triển.
- Tăng cường các thực phẩm có tác dụng chống ung thư, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể như: Tỏi, cà chua, hành tây, cần tây, bông cải xanh, cà rốt,…
- Giảm thiểu việc sử dụng chất béo động vật, thay thế chất béo từ động vật bằng chất béo thực vật là tốt nhất.
- Tầm soát ung thư bằng cách khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt những gia đình đã có tiền sử ung thư.
Thứ Hai, 18 tháng 1, 2016
Những điều "không thể không biết" về bệnh ung thư máu
Ung thư máu là bệnh gì?
Ung thư máu (còn có các tên gọi khác là ung thư bạch cầu, bệnh bạch cầu) là một dạng bệnh ung thư ác tính. Khi mắc căn bệnh này, bạch cầu trong cơ thể người bệnh sẽ tăng đột biến. Thông thường, bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, tuy nhiên, khi tăng lên đột biến, số lượng lớn bạch cầu sẽ trở nên "hung dữ" và gây hại cho chúng ta. Khi đó, bạch cầu sẽ bị thiếu "thức ăn", dẫn đến hiện tượng "ăn" hồng cầu. Điều này khiến cho các hồng cầu bị phá hủy dần dần, khiến người bệnh thiếu máu, từ đó dẫn đến tử vong.
Đây là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra ung bướu (còn gọi là u). Hiện tại, nguyên nhân của bệnh chưa được xác định một cách chính xác hoàn toàn, tuy nhiên, điều này có thể là do di truyền hoặc do tác động từ các yếu tố môi trường như ô nhiễm hóa học, nhiễm chất phóng xạ…
Biểu hiện của bệnh ung thư máu
Khi bệnh ung thư máu (ung thư bạch cầu) phát triển nhanh trong tủy, nó sẽ gây ra cảm giác đau nhức, đồng thời còn chiếm chỗ và làm ảnh hưởng tới sự phát triển của các tế bào máu bình thường khác. Khi đó, bệnh nhân có thể gặp một số triệu chứng sau:
- Sốt, cảm lạnh, đau đầu, đau khớp… là những biểu hiện của sự ảnh hưởng từ sức "công phá" trong tủy.
- Thiếu hồng cầu sẽ khiến cho bệnh nhân bị mệt mỏi, yếu sức, da trở nên trắng nhạt, thiếu sức sống.
- Bạch cầu không hoạt động bình thường nên người bệnh rất dễ bị nhiễm trùng.
- Có sự xuất hiện các hạch bất thường trên cơ thể.
- Khả năng đông máu giảm xuống, người mắc ung thư máu sẽ dễ bị chảy máu nướu răng, dễ bị bầm tím, các vết thương khó cầm máu…
Ung thư máu (còn có các tên gọi khác là ung thư bạch cầu, bệnh bạch cầu) là một dạng bệnh ung thư ác tính. Khi mắc căn bệnh này, bạch cầu trong cơ thể người bệnh sẽ tăng đột biến. Thông thường, bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể, tuy nhiên, khi tăng lên đột biến, số lượng lớn bạch cầu sẽ trở nên "hung dữ" và gây hại cho chúng ta. Khi đó, bạch cầu sẽ bị thiếu "thức ăn", dẫn đến hiện tượng "ăn" hồng cầu. Điều này khiến cho các hồng cầu bị phá hủy dần dần, khiến người bệnh thiếu máu, từ đó dẫn đến tử vong.
Đây là căn bệnh ung thư duy nhất không tạo ra ung bướu (còn gọi là u). Hiện tại, nguyên nhân của bệnh chưa được xác định một cách chính xác hoàn toàn, tuy nhiên, điều này có thể là do di truyền hoặc do tác động từ các yếu tố môi trường như ô nhiễm hóa học, nhiễm chất phóng xạ…
Khi bệnh ung thư máu (ung thư bạch cầu) phát triển nhanh trong tủy, nó sẽ gây ra cảm giác đau nhức, đồng thời còn chiếm chỗ và làm ảnh hưởng tới sự phát triển của các tế bào máu bình thường khác. Khi đó, bệnh nhân có thể gặp một số triệu chứng sau:
- Sốt, cảm lạnh, đau đầu, đau khớp… là những biểu hiện của sự ảnh hưởng từ sức "công phá" trong tủy.
- Thiếu hồng cầu sẽ khiến cho bệnh nhân bị mệt mỏi, yếu sức, da trở nên trắng nhạt, thiếu sức sống.
- Bạch cầu không hoạt động bình thường nên người bệnh rất dễ bị nhiễm trùng.
- Có sự xuất hiện các hạch bất thường trên cơ thể.
- Khả năng đông máu giảm xuống, người mắc ung thư máu sẽ dễ bị chảy máu nướu răng, dễ bị bầm tím, các vết thương khó cầm máu…
- Biếng ăn, sút cân, ở nữ giới còn gặp hiện tượng ra nhiều mồ hôi vào ban đêm.
Các biểu hiện của bệnh ung thư máu rất dễ bị nhầm lẫn với triệu chứng của mệt mỏi, cảm cúm thông thường. Vì thế, chúng ta không nên chủ quan khi cơ thể có các dấu hiệu trên nhé!
Ung thư máu chủ yếu được chữa trị bằng phương pháp thay tủy xương của người bệnh bằng tủy xương của một người hiến phù hợp. Những người thích hợp nhất là người có chung huyết thống với bệnh nhân. Sau khi thay thế phần tủy xương đã bị hư hỏng, nó sẽ kích thích sinh ra hồng cầu, kìm hãm sự gia tăng đột biến của bạch cầu. Tuy nhiên, khả năng thành công của việc chữa trị bệnh ung thư máu là rất thấp, chỉ khoảng 10%. Thậm chí, ngay cả khi được điều trị thành công, bệnh vẫn có khả năng tái phát cao.
Ngoài phương pháp cấy ghép tủy, còn một phương pháp điều trị khác là dùng hóa trị liệu. Cách này có triển vọng rất tốt cho bệnh nhân mắc ung thư máu. Đối với dòng Lympho còn có thể xạ trị màng não, ngăn ngừa tế bào phát triển lên não. Các bệnh nhân điều trị tốt và có sức đề kháng tốt, thích nghi với môi trường tốt, trong khoảng điều trị từ 3 - 5 năm có thể bình phục hoàn toàn.
Cách phòng tránh
Để phòng tránh và hạn chế nguy cơ mắc bệnh ung thư máu, cách tốt nhất, chúng ta nên bảo vệ cơ thể khỏi những yếu tố nguy hiểm như các chất hóa học độc hại, chất phóng xạ... Người làm việc trong môi trường nhiều chất này cần tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc bảo hộ. Chúng ta nên hạn chế hết sức có thể việc đi vào những vùng có các chất độc hại đó (các nhà máy sử dụng chất hóa học, những vùng đất nhiễm phóng xạ…).
Ngoài ra, trong cuộc sống hàng ngày, khi sử dụng các sản phẩm như nước rửa bát, nước lau nhà, mỹ phẩm…, các bạn hãy cố gắng chọn những sản phẩm từ thiên nhiên, càng thân thiện với cơ thể càng tốt nhé!
Để phòng tránh và hạn chế nguy cơ mắc bệnh ung thư máu, cách tốt nhất, chúng ta nên bảo vệ cơ thể khỏi những yếu tố nguy hiểm như các chất hóa học độc hại, chất phóng xạ... Người làm việc trong môi trường nhiều chất này cần tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc bảo hộ. Chúng ta nên hạn chế hết sức có thể việc đi vào những vùng có các chất độc hại đó (các nhà máy sử dụng chất hóa học, những vùng đất nhiễm phóng xạ…).
Ngoài ra, trong cuộc sống hàng ngày, khi sử dụng các sản phẩm như nước rửa bát, nước lau nhà, mỹ phẩm…, các bạn hãy cố gắng chọn những sản phẩm từ thiên nhiên, càng thân thiện với cơ thể càng tốt nhé!
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Máu trắng: Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị
Ung thư là một nhóm hơn 100 bệnh có hai điều quan trọng. Một là những tế bào nhất định trong cơ thể trở thành dị thường. Điều nữa là thân thể tiếp tục sản sinh số lượng lớn những tế bào dị thường này.
Bệnh máu trắng là ung thư của những tế bào máu. Mỗi năm, gần như 27,000 người lớn và hơn 2,000 trẻ con ở Hoa Kỳ biết bị bệnh bạch cầu. Để hiểu bệnh bạch cầu, thật có ích khi ta biết về những tế bào máu bình thường và cái gì xảy ra với chúng khi bệnh bạch cầu phát triển.
Khi bệnh bạch cầu phát triển, cơ thể sản sinh một số lớn những tế bào máu bất thường. Trong đa số các kiểu bệnh ung thư máu, những tế bào dị thường là những bạch cầu. Tế bào bệnh bạch cầu (thông thường nhìn khác với tế bào máu bình thường và chúng không thực hiện đúng chức năng của chúng).
Nguyên nhân gây bệnh máu trắng
Cho đến hiện nay, chúng ta vẫn chưa biết nguyên nhân vì sao gây ra ung thư máu. Những nhà nghiên cứu đang cố gắng giải quyết vấn đề này. Những nghiên cứu cho thấy rằng, ung thư máu thường gặp ở nam hơn nữ và những người da trắng thường mắc bệnh hơn những người da đen. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa thể giải thích tại sao người này thì bị còn người kia lại không.
Qua việc nghiên cứu số lượng lớn người trên khắp thế giới, những nhà nghiên cứu đã tìm thấy những yếu tố nguy cơ nhất định làm tăng nguy cơ phát triển bệnh bạch cầu. Ví dụ, sự tiếp xúc với một lượng lớn bức xạ năng lượng cao sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh bạch cầu.
Các chất phóng xạ này thường được sản sinh sau vụ nổ bơm nguyên tử ở Nhật Bản trong thời gian chiến tranh Thế Giới thứ 2. Trong những nhà máy năng lượng hạt nhân, những quy tắc an toàn tuyệt đối nhằm bảo vệ công nhân và cộng đồng tránh tiếp xúc với khối lượng bức xạ có hại.
Nghiên cứu gợi ý rằng sự tiếp xúc trong những lĩnh vực điện từ là một yếu tố nguy cho bệnh bạch cầu (những lĩnh vực điện từ là một kiểu của bức xạ năng lượng thấp đến từ dây điện và thiết bị điện). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu hơn cần thiết để chứng minh mối liên kết này.
Một số tình trạng di truyền có thể tăng thêm nguy cơ cho bệnh bạch cầu. Đó là hội chứng Down. Trẻ con sinh ra với hội chứng này có bệnh bạch cầu cao hơn so với trẻ khác.
Những công nhân tiếp xúc với hóa chất nhất định, trong cả một thời kỳ dài sẽ có nguy cơ cao bị ung thư máu. Benzen là một trong số hóa chất này. Đồng thời, vài thuốc sử dụng điều trị các loại ung thư khác có thể tăng thêm nguy cơ cho con người phát triển bệnh bạch cầu. Tuy nhiên, nguy cơ này rất nhỏ so với lợi ích mà mà hoá trị liệu mang lại.
Các nhà khoa học đã xác định được loại virut có khả năng làm tăng thêm nguy cơ mắc ung thư máu. Những nhà khoa học khắp thế giới tiếp tục nghiên cứu virut và nguy cơ có thể khác cho bệnh bạch cầu. Bằng việc nghiên cứu vì sau bị ung thư máu, từ đó các nhà khoa học hy vọng hiểu rõ hơn phương pháp để ngăn chặn và điều trị bệnh bạch cầu.
Các loại bệnh máu trắng
Có vài loại bệnh bạch cầu. Chúng được sắp xếp lại theo hai cách. Một cách là theo sự phát triển nhanh chóng ra sao và tồi tệ đi như thế nào. Cách khác bởi kiểu tế bào máu bị ảnh hưởng.
Bệnh bạch cầu hoặc là cấp hoặc kinh niên. Trong bệnh bạch cầu cấp, những tế bào máu dị thường là những tế bào non còn lưu giữ đặc tính chưa trưởng thành và không thể thực hiện những chức năng bình thường của chúng. Số lượng của tế bào non tăng thêm nhanh chóng, và bệnh trở thành xấu hơn đi nhanh chóng.
Trong bệnh bạch cầu kinh niên, một số tế bào non có mặt, nhưng nói chung, những tế bào này thì đã trưởng thành hơn và có thể thực hiện một số chức năngbình thường của chúng. Bệnh bạch cầu có thể xuất hiện trong cả hai kiểu bạch cầu chính: những tế bào bạch huyết hoặc những tế bào tủy.
Khi bệnh bạch cầu ảnh hưởng những tế bào bạch huyết, nó được gọi bệnh bạch cầu tế bào lymphô. Khi những tế bào tủy bị ảnh hưởng, bệnh được gọi tủy xương hoặc bệnh bạch cầu tạo tủy.
Đây là những kiểu chung nhất của bệnh bạch cầu :
- Bệnh bạch cầu dòng lympho cấp là thể thường gặp nhất của bệnh bạch cầu ở trẻ em. Bệnh này cũng gây ra ở người lớn, đặc biệt là ở tuổi 65 hoặc già hơn.
- Bệnh bạch cầu dòng tuỷ hầu hết thường ảnh hưởng đến người lớn tuổi hơn 55. Nó thường xảy ra ở người trẻ hơn, nhưng hầu như không bao giờ gây bệnh ở trẻ em.
- Bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn chủ yếu xảy ra ở người lớn. Rất ít trẻ em phát triển bệnh này.
- Bệnh bạch cầu tế bào lông là một thể không binh thường của bệnh bạch cầu mạn. Thể loại này và loại bất thường khác của bệnh bạch cầu không được bàn đến ở đây. Dịch vụ thông tin ung thư có thể cung cấp thông tin về chúng.
Bệnh này cũng ảnh hưởng đến người lớn, đặc biệt những người tuổi 65 và già hơn.
Các triệu chứng của bệnh máu trắng
Những tế bào bệnh bạch cầu là dị thường không thể làm việc bình thường mà những tế bào máu làm. Chúng không thể giúp đỡ cơ thể đấu tranh chống lại bệnh truyền nhiễm. Vì lý do này, những người mắc bệnh bạch cầu thường dễ bị nhiễm trùng và sốt.
Đồng thời, những người bị bệnh bạch cầu thường có số lượng hồng cầu và tiểu cầu ít hơn người bình thường. Kết quả là không có đủ hồng cầu để mang oxy tới khắp các cơ quan trong cơ thể. Điều kiện này, được gọi là sự thiếu máu, những bệnh nhân có thể trông nhợt nhạt và cảm thấy yếu và mệt. Khi không có đủ tiểu cầu, người bệnh dễ bị chảy máu, bầm tím da.
Như tất cả các tế bào máu, những tế bào bệnh bạch cầu cũng đi khắp cơ thể. Phụ thuộc vào số lượng tế bào dị thường và nơi mà những tế bào này tập trung, những bệnh nhân bệnh bạch cầu có thể có một số triệu chứng.
Trong bệnh bạch cầu cấp, những triệu chứng xuất hiện và trở nên tồi hơn nhanh chóng. Những người mắc bệnh này thường đến khám bác sĩ vì họ cảm thấy ốm đi nhanh chóng. Trong bệnh bạch cầu kinh niên, những triệu chứng có thể không xuất hiện trong một thời gian dài.
Khi những triệu chứng xuất hiện, lúc đầu nhẹ, sau đó xấu dần đi. Bác sĩ phát hiện bệnh bạch cầu kinh niên khi khám và làm xét nghiệm máu thường qui, mặc dù trước dóngười bệnh không có bất kỳ những triệu chứng nào.
Các triệu chứng chung của bệnh máu trắng (bệnh bạch cầu):
- Sốt, rét run, và triệu chứng giống như cảm cúm khác.
- Yếu và mệt.
Bệnh máu trắng là ung thư của những tế bào máu. Mỗi năm, gần như 27,000 người lớn và hơn 2,000 trẻ con ở Hoa Kỳ biết bị bệnh bạch cầu. Để hiểu bệnh bạch cầu, thật có ích khi ta biết về những tế bào máu bình thường và cái gì xảy ra với chúng khi bệnh bạch cầu phát triển.
Khi bệnh bạch cầu phát triển, cơ thể sản sinh một số lớn những tế bào máu bất thường. Trong đa số các kiểu bệnh ung thư máu, những tế bào dị thường là những bạch cầu. Tế bào bệnh bạch cầu (thông thường nhìn khác với tế bào máu bình thường và chúng không thực hiện đúng chức năng của chúng).
Nguyên nhân gây bệnh máu trắng
Cho đến hiện nay, chúng ta vẫn chưa biết nguyên nhân vì sao gây ra ung thư máu. Những nhà nghiên cứu đang cố gắng giải quyết vấn đề này. Những nghiên cứu cho thấy rằng, ung thư máu thường gặp ở nam hơn nữ và những người da trắng thường mắc bệnh hơn những người da đen. Tuy nhiên, người ta vẫn chưa thể giải thích tại sao người này thì bị còn người kia lại không.
Qua việc nghiên cứu số lượng lớn người trên khắp thế giới, những nhà nghiên cứu đã tìm thấy những yếu tố nguy cơ nhất định làm tăng nguy cơ phát triển bệnh bạch cầu. Ví dụ, sự tiếp xúc với một lượng lớn bức xạ năng lượng cao sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh bạch cầu.
Các chất phóng xạ này thường được sản sinh sau vụ nổ bơm nguyên tử ở Nhật Bản trong thời gian chiến tranh Thế Giới thứ 2. Trong những nhà máy năng lượng hạt nhân, những quy tắc an toàn tuyệt đối nhằm bảo vệ công nhân và cộng đồng tránh tiếp xúc với khối lượng bức xạ có hại.
Nghiên cứu gợi ý rằng sự tiếp xúc trong những lĩnh vực điện từ là một yếu tố nguy cho bệnh bạch cầu (những lĩnh vực điện từ là một kiểu của bức xạ năng lượng thấp đến từ dây điện và thiết bị điện). Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu hơn cần thiết để chứng minh mối liên kết này.
Một số tình trạng di truyền có thể tăng thêm nguy cơ cho bệnh bạch cầu. Đó là hội chứng Down. Trẻ con sinh ra với hội chứng này có bệnh bạch cầu cao hơn so với trẻ khác.
Những công nhân tiếp xúc với hóa chất nhất định, trong cả một thời kỳ dài sẽ có nguy cơ cao bị ung thư máu. Benzen là một trong số hóa chất này. Đồng thời, vài thuốc sử dụng điều trị các loại ung thư khác có thể tăng thêm nguy cơ cho con người phát triển bệnh bạch cầu. Tuy nhiên, nguy cơ này rất nhỏ so với lợi ích mà mà hoá trị liệu mang lại.
Các nhà khoa học đã xác định được loại virut có khả năng làm tăng thêm nguy cơ mắc ung thư máu. Những nhà khoa học khắp thế giới tiếp tục nghiên cứu virut và nguy cơ có thể khác cho bệnh bạch cầu. Bằng việc nghiên cứu vì sau bị ung thư máu, từ đó các nhà khoa học hy vọng hiểu rõ hơn phương pháp để ngăn chặn và điều trị bệnh bạch cầu.
Các loại bệnh máu trắng
Có vài loại bệnh bạch cầu. Chúng được sắp xếp lại theo hai cách. Một cách là theo sự phát triển nhanh chóng ra sao và tồi tệ đi như thế nào. Cách khác bởi kiểu tế bào máu bị ảnh hưởng.
Bệnh bạch cầu hoặc là cấp hoặc kinh niên. Trong bệnh bạch cầu cấp, những tế bào máu dị thường là những tế bào non còn lưu giữ đặc tính chưa trưởng thành và không thể thực hiện những chức năng bình thường của chúng. Số lượng của tế bào non tăng thêm nhanh chóng, và bệnh trở thành xấu hơn đi nhanh chóng.
Trong bệnh bạch cầu kinh niên, một số tế bào non có mặt, nhưng nói chung, những tế bào này thì đã trưởng thành hơn và có thể thực hiện một số chức năngbình thường của chúng. Bệnh bạch cầu có thể xuất hiện trong cả hai kiểu bạch cầu chính: những tế bào bạch huyết hoặc những tế bào tủy.
Khi bệnh bạch cầu ảnh hưởng những tế bào bạch huyết, nó được gọi bệnh bạch cầu tế bào lymphô. Khi những tế bào tủy bị ảnh hưởng, bệnh được gọi tủy xương hoặc bệnh bạch cầu tạo tủy.
Đây là những kiểu chung nhất của bệnh bạch cầu :
- Bệnh bạch cầu dòng lympho cấp là thể thường gặp nhất của bệnh bạch cầu ở trẻ em. Bệnh này cũng gây ra ở người lớn, đặc biệt là ở tuổi 65 hoặc già hơn.
- Bệnh bạch cầu dòng tuỷ hầu hết thường ảnh hưởng đến người lớn tuổi hơn 55. Nó thường xảy ra ở người trẻ hơn, nhưng hầu như không bao giờ gây bệnh ở trẻ em.
- Bệnh bạch cầu dòng tuỷ mạn chủ yếu xảy ra ở người lớn. Rất ít trẻ em phát triển bệnh này.
- Bệnh bạch cầu tế bào lông là một thể không binh thường của bệnh bạch cầu mạn. Thể loại này và loại bất thường khác của bệnh bạch cầu không được bàn đến ở đây. Dịch vụ thông tin ung thư có thể cung cấp thông tin về chúng.
Bệnh này cũng ảnh hưởng đến người lớn, đặc biệt những người tuổi 65 và già hơn.
Các triệu chứng của bệnh máu trắng
Những tế bào bệnh bạch cầu là dị thường không thể làm việc bình thường mà những tế bào máu làm. Chúng không thể giúp đỡ cơ thể đấu tranh chống lại bệnh truyền nhiễm. Vì lý do này, những người mắc bệnh bạch cầu thường dễ bị nhiễm trùng và sốt.
Đồng thời, những người bị bệnh bạch cầu thường có số lượng hồng cầu và tiểu cầu ít hơn người bình thường. Kết quả là không có đủ hồng cầu để mang oxy tới khắp các cơ quan trong cơ thể. Điều kiện này, được gọi là sự thiếu máu, những bệnh nhân có thể trông nhợt nhạt và cảm thấy yếu và mệt. Khi không có đủ tiểu cầu, người bệnh dễ bị chảy máu, bầm tím da.
Như tất cả các tế bào máu, những tế bào bệnh bạch cầu cũng đi khắp cơ thể. Phụ thuộc vào số lượng tế bào dị thường và nơi mà những tế bào này tập trung, những bệnh nhân bệnh bạch cầu có thể có một số triệu chứng.
Trong bệnh bạch cầu cấp, những triệu chứng xuất hiện và trở nên tồi hơn nhanh chóng. Những người mắc bệnh này thường đến khám bác sĩ vì họ cảm thấy ốm đi nhanh chóng. Trong bệnh bạch cầu kinh niên, những triệu chứng có thể không xuất hiện trong một thời gian dài.
Khi những triệu chứng xuất hiện, lúc đầu nhẹ, sau đó xấu dần đi. Bác sĩ phát hiện bệnh bạch cầu kinh niên khi khám và làm xét nghiệm máu thường qui, mặc dù trước dóngười bệnh không có bất kỳ những triệu chứng nào.
Các triệu chứng chung của bệnh máu trắng (bệnh bạch cầu):
- Sốt, rét run, và triệu chứng giống như cảm cúm khác.
- Yếu và mệt.
- Bị nhiễm trùng thường xuyên.
- Kém ăn và giảm cân.
- Sưng đau hạch bạch huyết, gan, lách to.
- Bầm tím và chảy máu dễ dàng.
- Sưng và chảy máu chân răng.
- Vã mồ hôi , đặc biệt là về đêm.
- Đau khớp và xương.
Trong bệnh bạch cầu cấp, tế bào bất thường có thể tập trung trong não hoặc tủy sống (cũng được gọi là hệ thần kinh trung ương). Kết quả có thể là những bệnh nhức đầu, nôn, lú lẫn, mất kiểm soát cơ bắp, và co giật.
Trong bệnh bạch cầu, tế bào cũng có thể tập hợp ở tinh hoàn và gây sưng to. Một số bệnh nhân than đau ở mắt hoặc trên da. Bệnh bạch cầu cũng có thể ảnh hưởng bộ máy tiêu hóa, thận, phổi, hoặc những bộ phận khác của cơ thể.
Trong bệnh bạch cầu kinh niên, những tế bào máu dị thường có thể từ từ tập hợp trong nhiều bộ phận của thân thể. Bệnh bạch cầu kinh niên có thể ảnh hưởng da, hệ thần kinh trung ương, bộ máy tiêu hóa, thận, và tinh hoàn.
Điều trị máu trắng và tác dụng phụ
Việc điều trị ung thư máu sẽ phá hủy cả tế bào ung thư máu và tế bào bình thường. Kiểm soát để hạn chế tác động của thuốc lên tế bào bình thường chỉ còn tác động lên tế bào ung thư máu để giảm tác dụng phụ của thuốc là một việc rất khó thực hiện.
Ðiều trị ung thư có rất nhiều tác dụng phụ. Chúng phụ thuộc chủ yếu vào loại phác đồ cũng như thời gian điều trị. Mỗi người sẽ có những phản ứng khác nhau và thậm chí trên cùng một bệnh nhân phản ứng phụ ở đợt điều trị này có thể khác những đợt khác. Nỗ lực của các nhà chuyên môn là giảm tác dụng phụ đến mức tối thiểu.
Các bác sĩ và y tá có thể giải thích những tác dụng phụ cho bệnh nhân biết và hướng dẫn họ thay đổi thuốc, chế độ ăn uống hay các biện pháp nào khác để đối phó. Ðiều trị bệnh bạch cầu cấp bằng thuốc
Tác dụng phụ của hoá trị liệu phụ thuộc chủ yếu vào loại thuốc bệnh nhân sử dụng. Ngoài ra, cũng như các phương pháp trị liệu khác, tác dụng phụ ở mỗi người sẽ khác nhau. Thường thì thuốc chống ung thư tác động lên các tế bào đang trong giai đoạn phân chia.
Các tế bào ung thư có đặc điểm phân chia nhiều hơn tế bào bình thường nên bị tác động bởi hoá trị liệu nhiều hơn. Tuy nhiên một số tế bào bình thường cũng bị phá huỷ. Các tế bào thường hay phân chia gồm tế bào máu; tế bào ở gốc lông, tóc hay ở đường tiêu hoá thường dễ bị phá huỷ.
Khi hoá trị liệu ảnh hưởng lên tế bào bình thường nó sẽ làm giảm sức đề kháng của bệnh nhân đối với tình trạng nhiễm trùng và bệnh nhân có thể mất năng lượng và dễ bị bầm tím hay chảy máu. Ða số các tác dụng phụ sẽ hết từ từ trong giai đoạn hồi phục giữa các đợt điều trị và sau khi ngưng điều trị.
Một số loại thuốc chống ung thư có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bệnh nhân. Kinh nguyệt có thể bị rối loạn hay ngưng hẳn và phụ nữ có thể bị triệu chứng mãn kinh như những cơn nóng bừng và khô âm đạo. Nam giới có thể ngưng tạo tinh trùng.
Vì các biến đổi này có thể là vĩnh viễn nên một số đàn ông chọn cách giữ tinh trùng đông lạnh. Hầu hết trẻ em được điều trị ung thư máu có khả năng sinh sản bình thường khi chúng lớn lên. Tuy nhiên tuỳ theo loại thuốc và liều lượng sử dụng cũng như tuổi mà một số trẻ em trai và gái không thể có con khi họ trưởng thành.
Xạ trị
Bệnh nhân bị xạ trị có thể rất mệt mỏi cho nên nghỉ ngơi là quan trọng nhưng các bác sĩ lại khuyên bệnh nhân vẫn duy trì hoạt động như trước.
Khi được xạ trị trực tiếp lên đầu thì bệnh nhân thường bị rụng tóc. Xạ trị có thể làm cho da đầu tại vùng chiếu xạ bị đỏ, khô, giòn và ngứa. Bệnh nhân nên được hướng dẫn cách chăm sóc da đầu sạch sẽ. Họ không nên sử dụng bất cứ loại nước hoa hay kem thoa lên vùng da chiếu xạ mà không tham khảo ý kiến của bác sĩ.
Xạ trị có thể gây buồn nôn, nôn và mất cảm giác ngon miệng. Những tác dụng phụ này là tạm thời và các bác sĩ và y tá có thể đề nghị cách kiểm soát chúng cho đến khi hoàn tất điều trị. Tuy nhiên một số tác dụng phụ có thể kéo dài.
Trẻ em (mà đặc biệt là những trẻ nhỏ tuổi) được chiếu xạ ở não có thể ảnh hưởng đến việc học tập. Vì lý do này mà các bác sĩ sử dụng liều xạ trị thấp nhất có thể được và chỉ áp dụng cho những trẻ không thể điều trị bằng hoá trị đơn lẻ. Xạ trị tinh hoàn có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản cũng như việc sản xuất hormon. Hầu hết những bé trai bị xạ trị tinh hoàn không thể có con sau này và trẻ cần phải sử dụng hormon thay thế.
Ghép tuỷ xương
Bệnh nhân ghép tuỷ xương đối diện với nguy cơ nhiễm trùng, chảy máu và các tác dụng khác do được hoá trị và xạ trị với một liều lượng lớn.
Ngoài ra bệnh ký chủ thải ghép có thể xảy ra ở người nhận tuỷ ghép từ một người khác cho. Trong bệnh này tuỷ của người cho phản ứng chống lại mô của ký chủ (thường là gan, da và đường tiêu hoá). Bệnh này có thể từ mức độ nhẹ đến trầm trọng và có thể xảy ra vào bất cứ thời điểm nào sau khi ghép (thập chí vài năm sau). Có thể cho thuốc để làm giảm nguy cơ bệnh này và điều trị những biến chứng do nó gây ra.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Ai dễ mắc ung thư máu?
Trong bệnh ung thư máu, tủy xương sản sinh ra bạch cầu với tốc độ nhanh và vượt ra khỏi sự kiểm soát.
Bệnh "máu trắng" hay bệnh bạch cầu là một loại ung thư máu, có nguồn gốc từ tế bào bạch cầu trong máu.
Ung thư máu bao gồm rất nhiều khái niệm và phân loại phức tạp, nhưng chủ yếu bao gồm 3 dạng chính là bệnh bạch cầu, lymphoma (sự phát triển quá mức của tế bào lympho, tác động đến hệ thống bạch huyết của cơ thể) và đau tủy (sự tăng sinh quá mức của tế bào plasma - tế bào có chức năng sinh ra kháng thể bảo vệ cơ thể).
Dựa theo nguồn gốc, người ta chia ra làm 2 loại là bệnh bạch cầu cấp dòng tủy và bệnh bạch cầu cấp dòng lympho. Dựa theo tốc độ phát triển bệnh, bao gồm 2 loại là cấp tính và mãn tính. Do đó, bệnh bạch cầu bao gồm 4 loại chính là bạch cầu cấp dòng tủy, bạch cầu cấp dòng lympho, bạch cầu mạn dòng tủy và bạch cầu mạn dòng lympho.
Tần suất? Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi. Ở trẻ em thường gặp bạch cầu cấp dòng lympho, ở người lớn từ 40 - 60 tuổi thường gặp bạch cầu cấp dòng tủy/ bạch cầu mạn dòng tủy và ở người trên 60 tuổi thường gặp bạch cầu mạn dòng lympho.
Nguyên nhân của ung thư máu?
Nguyên nhân chính xác vẫn còn chưa được tìm ra, nhưng có sự thúc đẩy của các yếu tố nguy cơ như: tiếp xúc với hóa chất, tia xạ, nhiễm trùng virút EBV, mắc các hội chứng di truyền như Down…
Các triệu chứng của ung thư máu?
Ban đầu, bệnh ít gây biểu hiện thành triệu chứng, nên bệnh nhân rất khó nhận biết. Các triệu chứng dần về sau sẽ xuất hiện, bao gồm: cảm giác mệt mỏi kéo dài; khi có va chạm thì vết thương chảy máu khó cầm hơn bình thường, có thể tự bầm, tự nổi chấm xuất huyết trên da, phụ nữ thì hay rong kinh, rong huyết kéo dài mà không thấy nguyên nhân thực thể; thường xuyên mắc các bệnh nhiễm trùng, thời gian hồi phục kéo dài lâu cũng như mức độ bệnh trầm trọng hơn.
Bệnh nhân có thể thấy nổi hạch, bụng to ra phía dưới sườn trái (vị trí của lách - có nghĩa là lách to ra). Lưu ý rằng các triệu chứng này không đặc hiệu cho ung thư máu, mà cũng có thể có nguồn gốc từ các bệnh lý không phải ung thư. Do đó, khi phát hiện, chúng ta cần đến các cơ sở y tế để kiểm tra.
Các xét nghiệm để chẩn đoán?
Bao gồm xét nghiệm máu (thường là xem công thức tế bào máu) và thủ thuật chọc hút tủy xương (thủ thuật gây tê, thường thực hiện ở vùng xương chậu phía sau, thời gian thực hiện nhanh khoảng 5 - 10 phút, mục đích để tìm các tế bàoung thư máu trong tủy dưới sự hỗ trợ của kính hiển vi).
Điều trị ung thư máu như thế nào?
Có nhiều phương pháp điều trị ung thư máu, tùy thuộc vào loại ung thư máu, tuổi tác, các biến chứng và các tình trạng bệnh lý đi kèm của bệnh nhân. Thứ nhất, có thể điều trị bằng hóa trị, tức là sử dụng thước để diệt tế bào ung thư. Thứ hai, có thể sử dụng xạ trị, tức là sủ dụng tia xạ để diệt tế bào ung thư. Các phương pháp trên vẫn có khả năng làm bệnh tái phát, nên trong một số trường hợp, ghép tủy hay ghép tế bào gốc ngoại vi vẫn là biện pháp tối ưu, tuy nhiên chi phí sẽ rất đắt.
Bệnh bạch cầu nói riêng hay bệnh ung thư máu nói chung là một căn bệnh ác tính, để lại nhiều biến chứng nặng nề. Do đó, cần phát hiện sớm bệnh ở giai đoạn đầu để có phương án điều trị thích hợp và hiệu quả.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ: bệnh nhiều cha mẹ chưa biết đến
Xuất huyết giảm tiểu cầu là một trong những bệnh lý thường gặp ở trẻ em. Khi trẻ xuất hiện các chấm, nốt hoặc mảng bầm máu tụ dưới da, chảy máu chân răng, niêm mạc… thì cha mẹ cần đưa trẻ đến các bệnh viện chuyên khoa để kiểm tra. Vì đấy có thể dấu hiệu của bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu nhiều cha mẹ chưa biết đến.
Người bệnh có thể xuất huyết bất kỳ lúc nào
Đó là trường hợp bệnh nhân N.P.L 6 tuổi mắc chứng giảm tiểu cầu - một căn bệnh về máu vô cùng khó chữa. Theo chia sẻ của mẹ bệnh nhân thì cháu có thể bị xuất huyết bất kỳ lúc nào như chảy máu mũi, tai...
Chị cho biết từ khi sinh ra, L đã ở bệnh viện nhiều hơn ở nhà. Lần đầu tiên gia đình thấy cháu có vết thâm ở chân khi cháu bị ngã, nghĩ rằng đó chỉ là những vết thâm tự nhiên khi ngã nên gia đình không mấy quan tâm. Mấy ngày sau cháu L có hiện tượng xuất huyết toàn thân, miệng, mắt và tay chân. Khi cháu tới bệnh viện thì được bác sĩ kết luận xuất huyết giảm tiểu cầu.
Theo BS Nguyễn Thị Hiền, BV Thanh Nhàn, bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất là ở trẻ em và những người trẻ tuổi.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh xuất huyết dogiảm tiểu cầu, nhưng phổ biến nhất là do tăng phá hủy tiểu cầu ở máu ngoại vi và giảm sinh tiểu cầu ở tủy xương. Nếu xuất huyết giảm tiểu cầu do tăng phá hủy tiểu cầu ở máu ngoại vi, bệnh nhân sẽ mắc các bệnh như: các u máu lớn, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm virut nặng gây giảm tiểu cầu, tan máu tự miễn kèm theo giảm tiểu cầu, bệnh luput ban đỏ...
Nếu xuất huyết giảm tiểu cầu do giảm sinh tiểu cầu ở tủy xương, bệnh nhân dễ bị suy tủy toàn bộ, suy một dòng mẫu tiểu cầu hay các bệnh ác tính ở tủy xương như ung thư di căn tủy... Xuất huyết giảm tiểu cầu khá phổ biến ở trẻ em, chủ yếu là do giảm số lượng tiểu cầu ở máu ngoại vi.
Bệnh thường có khởi phát từ từ kín đáo với sự xuất hiện của các nốt xuất huyết chấm đỏ hoặc bầm tím, hay xuất huyết do xây xước nhẹ trên da, không kèm theo sốt, thiếu máu, sưng hạch hoặc các biểu hiện toàn thân khác. Khi số lượng tiểu cầu giảm nặng, cần có các biện pháp đề phòng chảy máu, đặc biệt là chảy máu ở phổi, não dễ gây tử vong cho người bệnh.
Đặc biệt, xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ em thường có diễn biến cấp tính. Vì vậy, khi thấy trẻ có những dấu hiệu kể trên, nên sớm đưa trẻ đi khám chuyên khoa huyết học để có hướng xử trí thích hợp.
Dấu hiệu nhận biết bệnh giảm tiểu cầu
Theo BS Hiền, dấu hiệu chung nhất của bệnh là hội chứng chảy máu, đặc biệt là ở da và niêm mạc. Nếu bị chảy máu dưới da, người bệnh có thể xuất hiện các chấm, nốt hoặc mảng bầm máu tụ dưới da. Người bệnh cũng có các dấu hiệu chảy máu mũi, lợi chân răng, tai…
Nặng hơn, người bệnh có thể bị xuất huyết nội tạng, xuất huyết não – màng não, xuất huyết phổi, xuất huyết tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục (đa kinh, rong kinh). Khi bị xuất huyết, người bệnh cũng sẽ bị thiếu máu tương xứng với mức độ chảy máu.
Theo BS Hiền, tiểu cầu là một trong ba loại tế bào máu của cơ thể. Tiểu cầu được sinh ra từ tủy xương và có kích thước rất nhỏ. Tiểu cầu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cơ thể cầm máu nhờ các tính chất đặc thù là tập trung thành từng đám dính chặt vào thành mạch nơi có tổn thương và thoái hóa các chất nhầy để giải phóng ra yếu tố làm đông máu, giúp cơ thể cầm máu và bảo vệ thành mạch không bị rò rỉ.
Khi số lượng tiểu cầu bị giảm thì quá trình đông máu không được thực hiện và gây nên tình trạng xuất huyết.
Tiểu cầu người bình thường là 150 - 500G/l, nếu khi thấy triệu chứng trên, bệnh nhân đi tổng phân tích tế bào máu (xét nghiệm máu tại các bệnh viện) mà tiểu cầu đạt 100G/l thì nghĩ tới việc giảm tiểu cầu. Tuy nhiên, do các gia đình thường không biết về bệnh nên khi trẻ nhập viện thường tiểu cầu rất thấp, có trẻ đạt tiểu cầu ở mức 5G/l và phải cấp cứu, truyền tiểu cầu gấp.
BS Hiền lưu ý tiểu cầu làm nhiệm vụ đông cầm máu, khi thấp quá thì khả năng đông, cầm máu chậm. Nếu bệnh nhân có va chạm mạnh dẫn đến chấn thương, sinh nở, chảy máu thì rất nguy hiểm.
Đây là bệnh điều trị lâu dài, bệnh nhân được truyền tiểu cầu kết hợp với dùng thuốc, thăm khám bệnh viện đều đặn hàng tháng. Để bệnh giảm thì bệnh nhân cần ăn chín, uống sôi, vệ sinh sạch sẽ tránh nhiễm khuẩn, tránh va chạm, tổn thương...
Đây là bệnh điều trị lâu dài, bệnh nhân được truyền tiểu cầu kết hợp với dùng thuốc, thăm khám bệnh viện đều đặn hàng tháng. Để bệnh giảm thì bệnh nhân cần ăn chín, uống sôi, vệ sinh sạch sẽ tránh nhiễm khuẩn, tránh va chạm, tổn thương...
Bệnh nhân hạn chế vận động, tránh va chạm, giữ vệ sinh răng miệng, đảm bảo chế độ dinh dưỡng, tránh ăn những thức ăn gây xước niêm mạc miệng, lưỡi... theo dõi tình trạng xuất huyết, mức độ mất máu để có phương án điều trị kịp thời.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317


Thứ Năm, tháng 2 11, 2016
doanh nhan
