Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015

Bệnh máu nhiễm mỡ nên ăn gì?

Cách điều trị đơn giản và hiệu quả nhất là điều chỉnh ngay trong bữa ăn hàng ngày của gia đình. Vậy người bệnh máu nhiễm mỡ nên ăn gì? Xin đưa ra một số gợi ý về những thực đơn giúp giảm mỡ máu và ngăn ngừa lượng mỡ nhiễm trong máu.

Kiểm soát ăn uống một cách nghiêm khắc
+ Nên ăn những loại thực phẩm có chứa hàm lượng cholesterol thấp như rau xanh, các sản phẩm được làm từ đậu, thịt nạc thăn… Đặc biệt là nên ăn những loại rau xanh có chứa nhiều chất xơ. Chỉ có như vậy thì mới làm giảm được sự hấp thụ của đường ruột đối với cholesterol.

Benh mau nhiem mo nen an gi?
Bệnh nhân mỡ máu cao nên ăn nhiều rau xanh.

+ Không nên ăn tối quá muộn với thức ăn nhiều đạm vì rất khó tiêu hoá và sẽ làm lượng cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch.
+ Nên ăn nhạt vì thức ăn này có lợi cho sức khỏe và bệnh tim. Kiêng thức ăn có nồng độ chất béo cao, nên ăn những thức ăn ít chất béo như cá, đậu phụ, đỗ tương.
+ Nên ăn thực phẩm có nhiều tác dụng giảm mỡ trong máu như: Gừng, chế phẩm đậu sữa, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây, ba ba, trà, dầu ngô.

Bệnh máu nhiễm mỡ nên ăn gì?
Ăn ít chất béo
Để giảm cholesterol trong máu, chế độ ăn chỉ được cung cấp dưới 30% calo từ chất béo
+ Tránh ăn mỡ động vật (mỡ lợn, bơ, mỡ bò...) và kem sữa bò: Những thực phẩm này chứa nhiều chất béo no, những chất rất dễ làm tắc động mạch. Cách tốt nhất là chọn toàn thịt nạc, nếu ăn thịt gia cầm thì nên bỏ da. Nếu dùng các thức ăn từ sữa thì nên chọn loại đã tách kem (còn gọi là sữa gầy). Ngay cả sữa chua hay pho mát cũng nên chọn loại làm từ sữa gầy hoặc sữa có hàm lượng chất béo chỉ 1-2%.
+ Tránh dùng dầu cọ hay dầu dừa. Không chỉ tồn tại riêng lẻ, các loại dầu này có mặt trong kem thực vật để uống với cà phê (coffee creamers, coffee mate), bánh kem, kẹo chocolate…
+ Tránh các thức ăn như bơ thực vật dạng thỏi và bánh, bánh nướng lò, sản phẩm dạng rán như khoai tây rán, mì ăn liền và nhiều thức ăn công nghiệp chế biến sẵn khác. Trong những thức ăn này có axit béo dạng trans, có thể làm tăng lượng cholesterol máu. Để tránh axit này, nếu muốn phết bơ lên bánh mì hãy chọn loại bơ thực vật mềm.
+ Nên dùng dầu ô liu, dầu cải, dầu ngô, dầu hạt rum, dầu đậu nành và dầu hướng dương. Đây là những loại dầu có tác dụng làm hạ mức cholesterol. Điều cần lưu ý là tổng tất cả các loại chất béo nói trên đều không được vượt quá 30% lượng calo cho phép.

Ít ăn thịt đỏ, ăn nhiều cá, rau quả
+ Giới hạn lượng thịt đỏ (bò, ngựa, trâu, cừu) tiêu thụ dưới 255 g/tuần.
+ Ăn nhiều cá (mỗi tuần vài ba lần) để thu nhận axit béo hệ Omega-3, có tác dụng bảo vệ tim mạch. Cá hồi, cá ngừ, cá mòi, cá trích và cá thu có nhiều axit béo loại này.

Benh mau nhiem mo nen an gi?-Hinh-2
Ăn ít thịt đỏ.

+ Tăng lượng chất xơ trong bữa ăn, đặc biệt là dưới dạng hòa tan. Những thức ăn có nhiều chất xơ hòa tan là gạo lức, các hạt họ đậu, đậu lăng, lúa mạch, rau, trái cây (táo, lê, ổi, mận, cam, bưởi). Các thức ăn này làm giảm lượng chất béo và cholesterol được hấp thụ vào cơ thể, giúp "trục xuất" các muối mật ra ngoài.

+ Nạp đủ axit folic: Nếu hàm lượng axit này trong máu quá thấp thì hàm lượng homocystein sẽ tăng, dẫn đến nguy cơ bị bệnh tim. Các nhà nghiên cứu khuyến cáo nên nạp mỗi ngày 400 microgram axit folic qua các thực phẩm như rau chân vịt, nước ép trái cam, bánh mì, lạc, đậu trắng và mầm lúa mì.

Người bệnh rối loạn sinh tủy cần làm gì?

Rối loạn sinh tủy là căn bệnh nghiêm trọng, gây ra những rủi ro về sức khỏe, những người mắc phải căn bệnh này vẫn có hy vọng nếu phát hiện sớm và có kế hoạch điều trị đúng hướng.

Thế nào là hội chứng rối loạn sinh tủy?
Rối loạn sinh tủy (rối loạn tăng sinh tủy) là nhóm các bệnh lý, do rối loạn đặc trưng bởi sự tăng sinh tế bào của một hay nhiều dòng tế bào trong máu ngoại vi, phân biệt với bệnh bạch cầu cấp tính.
Mặc dù rối loạn sinh tủy là căn bệnh nghiêm trọng và có thể gây ra những rủi ro về sức khỏe, nhưng những người mắc phải căn bệnh này vẫn có hy vọng được điều trị và thường vẫn có thể duy trì sự sống thêm nhiều năm sau khi chẩn đoán.
Hội chứng rối loạn sinh tủy có liên quan đến nhiều bất thường về nhiễm sắc thể. Hay gặp nhất là mất đoạn hoặc toàn bộ nhiễm sắc thể số 5 hoặc 7, ít gặp hơn là mất đoạn các nhiễm sắc thể số 9, 11, 12, 13, 17 hoặc 20.
Những đặc trưng của bệnh: Rối loạn quá trình biệt hóa và tăng sinh của các dòng tế bào máu gây nên tình trạng sinh máu không hiệu lực. Chính điều này đã làm giảm 1, 2 hay 3 dòng tế bào trong máu ngoại vi kết hợp với những rối loạn hình thái và chức năng của 3 dòng hồng cầu, bạch cầu, mẫu tiểu cầu trong tủy xương.
Người bệnh rối loạn sinh tủy cần làm gì?
​Ghép tủy trong bệnh rối loạn sinh tủy là vấn đề đang được nhiều người quan tâm.
Triệu chứng của bệnh rối loạn sinh tủy
Bệnh rối loạn sinh tủy thường không có biểu hiện rõ ràng khi đi khám trong giai đoạn đầu tiên.
Triệu chứng thường gặp nhất ở người bệnh là lá lách to lên, thường gây đau bụng và cảm giác no sau khi ăn. Thường gặp ở người trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ.
Triệu chứng có thể phát hiện sớm nhất và thường gặp nhất của bệnh là thiếu máu. Thiếu máu thường từ từ, dai dẳng và không rõ nguyên nhân.
Hội chứng xuất huyết (dưới da, niêm mạc, nội tạng).
Hội chứng nhiễm khuẩn (hô hấp, tiêu hóa, sinh dục - tiết niệu...).
Có thể gặp gan to và/ hoặc lách to.
Thâm nhiễm ngoài da thường gặp ở bệnh nhân có tăng bạch cầu monocyte.
Các triệu chứng trên có thể xuất hiện đơn độc hoặc phối hợp nhau, các hội chứng nhiễm khuẩn, xuất huyết, gan lách to gặp với tỷ lệ thấp hơn hội chứng thiếu máu.
Nguyên nhân gây bệnh
Tất cả các loại rối loạn sinh tủy là do sự sản sinh quá mức cần thiết của một hay nhiều loại tế bào máu.
Điều này có thể xuất phát từ 2 nguyên nhân chính:
Yếu tố di truyền: Một số người mắc rối loạn sinh tủy đều có một nhiễm sắc thể bất thường rút ngắn được gọi là nhiễm sắc thể Philadelphia.
Yếu tố môi trường: Một số nghiên cứu cho rằng rối loạn sinh tủy có thể là hậu quả do tiếp xúc quá nhiều với bức xạ, hệ thống dây điện hoặc hóa chất.
Các dạng rối loạn sinh tủy
Đa hồng cầu nguyên phát: loại rối loạn này xảy ra khi tủy xương sản sinh quá nhiều tế bào máu, đặc biệt là các tế bào máu đỏ. Hơn 95% người bị đa hồng cầu nguyên phát mang đột biến JAK2V617F trong máu.
Tăng tiểu cầu thiết yếu: xảy ra khi cơ thể sản xuất quá nhiều tế bào tiểu cầu, làm máu bị đóng cục. Cục máu đông có thể làm nghẽn mạch máu dẫn đến cơn đau tim hoặc đột quỵ.
Chứng xơ cứng tủy: xảy ra khi tủy xương sản sinh quá nhiều collagen hoặc mô xơ trong tủy xương. Điều này làm giảm khả năng sản xuất các tế bào máu của tủy.
Bệnh bạch cầu mạn tính dòng tủy (CML): ung thư tủy xương sản sinh bạch cầu hạt bất thường, một loại tế bào máu trắng, trong tủy xương.
Ðiều trị bệnh ra sao?
Tùy trường hợp mà sử dụng các chế phẩm máu, kháng sinh. Có thể hóa trị vàghép tế bào gốc để điều trị một số thể bệnh. Bệnh diễn biến ngày càng nặng và có tỷ lệ cao chuyển thành bạch cầu cấp. Tùy theo thể bệnh và việc điều trị, bệnh kéo dài từ 2 đến 7 năm. Nguyên nhân dẫn đến tử vong thường là chuyển thành bạch cầu cấp, nhiễm khuẩn nặng hay xuất huyết, nhiễm sắt và các biến chứng khác gặp trong quá trình điều trị.
Ngoài hội chứng rối loạn sinh tủy nguyên phát, còn gặp một số trường hợp mắc bệnh thứ phát do điều trị các bệnh khác. Cũng có trường hợp bệnh nhiễm khuẩn kéo dài, xơ gan làm ảnh hưởng sinh máu ở tủy nên có thể có hình ảnh máu và tủy tương tự rối loạn sinh tủy. Những trường hợp này nếu điều trị bệnh chính ổn định thì tủy lại sinh máu bình thường.
Hiện nay chưa có phương pháp nào chữa khỏi bệnh rối loạn tủy xương, tuy nhiên, một số cách điều trị dưới đây có thể cải thiện triệu chứng và ngăn ngừa các biến chứng có thể xảy ra:
Với đa hồng cầu nguyên phát: giảm số lượng tế bào máu đỏ bằng cách chích để loại bỏ, thay thế máu. Điều trị bằng thuốc gọi là liệu pháp ức chế tủy, cũng rất phổ biến.
Với tăng tiểu cầu thiết yếu: dùng thuốc điều trị các triệu chứng.
Với chứng xơ cứng tủy: truyền máu và sử dụng thuốc.
Với bạch cầu mạn tính dòng tủy: liệu pháp hóa trị, sinh học, hóa trị liều cao với ghép tế bào gốc (từ người thân), hay tiến hành phẫu thuật.
Bệnh sẽ diễn biến ngày càng nặng và có nguy cơ cao chuyển thành bạch cầu cấp, nhiễm khuẩn nặng hay xuất huyết, nhiễm sắt và các biến chứng khác gặp trong quá trình điều trị.
Người bệnh cần có chế độ dinh dưỡng như thế nào?
Ăn thực phẩm chống ôxy hóa bao gồm cả các loại trái cây (như quả việt quất, anh đào, cà chua), rau quả (như bí và ớt chuông).
Tránh các loại thực phẩm tinh chế như bánh mì trắng, mì ống và đặc biệt là đường.
Ăn thịt ít màu đỏ và các loại thịt nạc, cá nước lạnh, đậu phụ (đậu nành, nếu không bị dị ứng), hoặc đậu giàu protein.
Sử dụng các loại dầu lành mạnh như dầu ôliu hoặc dầu thực vật.
Không dùng các chất kích thích như cà phê, rượu, thuốc lá.
Uống 6 - 8 ly nước lọc mỗi ngày.
Tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày.


11 yếu tố gây tăng đường huyết

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) “Kiểm soát đường huyết rất quan trọng bởi trước tiên, người bệnh cảm thấy khỏe khoắn hơn khi đường huyết nằm trong phạm vi an toàn, và về lâu dài, có thể phòng tránh được sự xuất hiện các biến chứng của bệnh đái tháo đường như tổn thương thần kinh,suy thận, các bệnh về da, tổn thương mắt, huyết áp cao, đột quỵ, và hơn thế nữa”.
Và đây là 11 nguyên nhân làm tăng đường huyết, gây khó khăn cho việc kiểm soát đường huyết của người bệnh ngay cả khi họ đã tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị cho căn bệnh mạn tính này.
1. Chất ngọt nhân tạo
Một nghiên cứu trên tạp chí Nature năm 2014 công bố rằng, việc tiêu thụ các chất ngọt nhân tạo không chứa calo, như loại tìm thấy trong soda ăn kiêng và các chất ngọt được thêm vào cà phê và trà, thực sự dẫn tới việc dung nạp glucose và tăng nồng độ đường trong máu, có khả năng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
“Soda ăn kiêng có thể tốt hơn soda thường”, tiến sĩ Dodell nói. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh, sự điều độ là rất quan trọng, và ông đề nghị việc bỏ soda – cả loại thường và loại ăn kiêng – ra khỏi danh mục các đồ uống lành mạnh.
2. Thực phẩm giàu chất béo
Khi nói tới bệnh tiểu đường tuýp 2, carbonhydrates là nguồn năng lượng từ thức ăn được quan tâm nhiều nhất. Nhưng carbonhydrates không chỉ là loại thực phẩm duy nhất mà người bệnh cần theo dõi chặt chẽ. Mặc dù các thực phẩm giàu chất béo không trực tiếp làm tăng lượng đường trong máu, nhưng chúng có thể gây kháng insulin, và – bởi vì cần nhiều thời gian hơn để tiêu hóa – chúng sẽ làm cho mức đường huyết biến động tăng lên trong nhiều giờ.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
“Đôi khi xuất hiện một đồ ăn mà bạn sẽ không bao giờ biết được rằng chúng lại có khả năng ảnh hưởng tới lượng đường huyết của bạn”, Grieger nói. Đó là lý do tại sao, chú ý tới cách thức mỗi loại thức ăn ảnh hưởng tới bạn như thế nào là rất quan trọng.
3. Bỏ ăn sáng
Bữa sáng được ghi nhận là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày – và điều này đặc biệt đúng đối với bệnh nhân tiểu đường tuýp 2, theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Diabetes Care.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Các nhà nghiên cứu từ Đại học Tel Aviv đã theo dõi lượng thức ăn của 22 bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 và lượng đường trong máu tương ứng của họ trong 2 ngày. Điều khác biệt duy nhất về lượng thức ăn trong hai ngày đó là những người tham gia đã ăn bữa sáng một hôm và bỏ qua bữa sáng vào ngày hôm sau. Nghiên cứu chỉ ra lượng đường trong máu biến động tăng vào ngày các bệnh nhân bỏ bữa sáng. Các nhà nghiên cứu tin rằng, chức năng của các tế bào beta tuyến tụy, nơi sản sinh insulin, đã bị ảnh hưởng theo cách tiêu cực khi bỏ bữa sáng. “Nhưng hãy nhớ rằng”, Grieger nói, “ăn sáng thôi chưa đủ. Những gì bạn ăn vào bữa sáng mới là quan trọng”. Bà đề nghị một bữa ăn sáng với đầy đủ dưỡng chất và ít carbonhydrit, chẳng hạn như trứng với rau chân vịt, nấm, và cà chua.
4. Ăn quá nhiều vào bữa tối
Kết quả của một nghiên cứu được công bố năm 2014 trên tạp chí Diabetotogia đã vẽ lên một bức tranh về tác động của bữa ăn tối. Những người tham gia ăn một bữa sáng lớn vào buổi sáng (700 calo) và một bữa tối nhẹ vào buổi tối (200 calo) đã kiểm soát mức đường trong máu tốt hơn những người ăn một bữa sáng nhẹ (200 calo) và bữa tối lớn (700 calo). (Cả hai nhóm này đều tiêu thụ 600 calo vào bữa trưa).
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Đáng chú ý là lượng đường trong máu cũng có xu hướng tăng vào buổi sáng sớm, vào khoảng 4h tới 5h sáng. Nhưng những người đái tháo đường tuýp 2 có thể kiểm soát tốt hơn được “hiện tượng bình minh”này, theo ADA, bằng việc ăn bữa tối sớm hơn vào buổi tối.
5. Kỳ kinh nguyệt
Biến động mức hormone trước và trong kỳ kinh nguyệt có thể tăng kháng insulin tạm thời, gây ra việc tăng đường huyết. Hầu hết phụ nữ cho biết sự gia tăng đường huyết vào những ngày trước kỳ kinh, một số lại bị giảm đường huyết. Những phụ nữ đang bước vào giai đoạn tiền mãn kinh, Grieger nói, lượng đường huyết của họ không đoán trước được.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Nếu chu kỳ kinh nguyệt của bạn ảnh hưởng tới mức đường huyết, hãy nói với bác sỹ để điều chỉnh phương pháp điều trị phù hợp nhất khi kỳ kinh xuất hiện.
6. Lười vận động thể chất
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Các bài tập thể dục rất quan trọng trong việc kiểm soát tiểu đường tuýp 2. Ngoài việc giúp bạn duy trì một cân nặng có lợi cho sức khỏe hay giảm cân, cũng như làm giảm nguy cơ đột quỵ và bệnh tim, các hoạt động thể chất làm tăng độ nhạy cảm insulin của cơ thể và giúp các tế bào loại bỏ đường ra khỏi máu và chuyển hóa nó thành năng lượng. Theo ADA, một hoạt động thể chất tốt có thể làm giảm mức đường huyết của bạn trong 24 giờ hoặc hơn thế nữa.
7. Stress
“Stress chắc chắn làm tăng lượng đường trong máu”, Dodell nói. “Nó làm tăng cortisol, một loại hooc môn đối kháng. Khi cortisol tăng lên, nó làm chúng ta kém nhạy cảm với insulin của cơ thể hoặc insulin tiêm”. Stress có thể về thể chất – như bị chấn thương – hay tinh thần, như bị khủng hoảng tài chính hoặc trục trặc trong hôn nhân. Thậm chí, những thay đổi tích cực tới thói quen hàng ngày – như thăng chức nơi làm việc hay đi nghỉ mát – cũng có thể gây ra sự tăng đột biến đường huyết, Dodell giải thích.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Cách tốt nhất để giảm stress và kiểm soát trở lại các hooc môn? “Đi bộ 5 phút hoặc hít thở sâu rồi thở ra từ từ 10 lần”, chuyên gia nói. “Và có một số thói quen thông thường bạn nên duy trì và phát triển, như việc thực hiện bài tập thể dục hàng ngày hoặc thiền định thường xuyên”.
8. Ốm đau
Khi bị ốm hay bị viêm nhiễm, cơ thể của bạn sẽ giải phóng các hooc môn để chống lại bệnh tật. Điều đó tốt thôi, nhưng có một nhược điểm đối với người bệnh tiểu đường tuýp 2 – mức đường huyết có thể tăng cao. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, theo ADA, có thể dẫn tới hôn mê sâu đe dọa tới tính mạng.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
ADA đề nghị bạn nên tham vấn bác sĩ về số lần kiểm tra đường huyết cần thiết, loại thuốc cần dùng, kiểm tra mức ketone trong nước tiểu, và nếu có bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào, cần phải gọi cho bác sỹ ngay lập tức.
9. Các loại thuốc khác
Đau ốm bản thân nó có thể gây tăng đường huyết, nhưng những thuốc trị bệnh cũng vậy. Một số các thuốc được bán theo yêu cầu hay thuốc kê theo đơn – thậm chí một số loại vitamin và thuốc bổ - đã được chứng minh cũng làm tăng đường huyết. Ví dụ như, corticosteroid, các thuốc chữa bệnh hen suyễn, thuốc tránh thai, thuốc chống trầm cảm, và một số thuốc đặc trị mụn trứng cá.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Do đó, thông báo cho bác sỹ biết mọi loại thuốc bạn đang sử dụng là rất quan trọng, bất kể đó là thuốc theo yêu cầu hay thuốc được kê đơn bởi các bác sỹ chuyên khoa khác.
10.Thiếu ngủ
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Có nhiều các cuộc điều tra về mối liên quan giữa giấc ngủ và các vấn đề sức khỏe. Theo Quỹ Giấc ngủ Quốc gia Mỹ (NSF), ngủ không đủ có thể dẫn tới lượng đường trong máu tăng đột biến. NSF cho hay, các kết nối có thể liên quan tới sự suy giảm hooc môn cortisol và hoạt động của hệ thần kinh trong giấc ngủ sâu – và với những thay đổi khác của cơ thể trong khi ngủ, được cho là giúp điều hòa lượng đường trong máu. Vậy nên, sau những đêm mất ngủ, bạn phải thật sự chú ý tới mức đường huyết của bản thân mình, Dodell khuyến cáo.
11. Chăm sóc răng miệng kém
Bệnh nướu răng từ lâu đã được công nhận là biến chứng của tiểu đường tuýp 2. Và, ngược lại, các nhà nghiên cứu tìm ra rằng, nướu không khỏe mạnh có thể làm tăng lượng đường trong máu. Theo Hiệp hội Nha sỹ Mỹ, các vi trùng từ các nướu răng bị viêm có thể bị nhiễm vào máu. Cơ thể sau đó sản xuất các phân tử gây hại theo một số cách, một trong số đó là làm tăng đường huyết.
11 yếu tố gây tăng đường huyết
Đánh răng 2 lần một ngày và thăm khám nha sỹ thường xuyên để kiểm tra nướu răng là lời khuyên của Hiệp hội Nha sỹ Mỹ với bệnh nhân tiểu đường tuýp 2.

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Nhóm máu nào dễ mắc bệnh tim nhất?

Trong nghiên cứu mới đây của Viện Y tế quốc gia Mỹ, các nhà nghiên cứu đã tiến hành theo dõi khoảng 50.000 người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi ở Đông Bắc Iran trong thời gian 7 năm. Họ phát hiện ra những người không có nhóm máu O chỉ chiếm 9% qua đời vì nguyên nhân sức khỏe yếu, 15% qua đời vì bệnh tim mạch.
Ngoài ra, trong nghiên cứu này các nhà khoa học cũng tiến hành kiểm tra nhóm máu của của các đối tượng xem có liên quan đến nguy cơ ung thư dạ dày, họ phát hiện ra rằng những người có nhóm máu A, B hay AB tăng 55% nguy cơ ung thư dạ dày so với những người nhóm máu O.
Những người có nhóm máu A, B hoặc AB có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tuổi thọ ngắn hơn so với nhóm máu O.
Những người có nhóm máu A, B hoặc AB có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tuổi thọ ngắn hơn so với nhóm máu O.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng trấn an rằng, kết quả nghiên cứu này không có nghĩa là những người khác nhóm máu O phải quá bận tâm, bởi nguy cơ bệnh tim và tuổi thọ còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác, bao gồm cả tập thể dục, sức khỏe thể chất tổng thể...các chuyên gia nhấn mạnh.
Trước đó, một nghiên cứu năm 2012 thuộc ĐH Y tế cộng đồng Harvard tại Boston, Mỹ) cũng đã phát hiện kết quả tương tự sau khi phân tích các chỉ số cơ thể, tuổi tác chế độ ăn uống của 90.000 người (ở độ tuổi từ 30-75) trong vòng 20 năm. Theo đó, những người có nhóm máu A, B hoặc AB sẽ dễ mắc bệnh tim hơn so với những người thuộc nhóm máu O.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons